Era

Nếu ngồi tính nhẩm xem ngoài nhà bố mẹ ra, nơi nào gắn bó với tôi lâu nhất, thì đó chính là Era.

Era là một trong những quán/tiệm cafe đầu tiên tôi đến, vào cái thời mới tập tành biết ‘đi cafe’. Đó là năm 2002, tôi đang học năm lớp 12 trường PTTH Phan Đăng Lưu, đến nay tròn 15 năm rồi đấy.

Đã có 1 thời gian, tôi xem Era như ‘căn phòng thứ 2’ song song với ngôi nhà mình. Cứ đi ra đường mà không biết đi đâu thì rẽ vào Era là yên tâm nhất. Cứ có chuyện gì bức bối trong lòng, vào Era ngồi đã rồi sẽ tính sau.

Tôi nhớ con đường Trần Quốc Thảo là nơi tôi hay thích đi vòng qua rồi mới về nhà sau những buổi học thêm ca tối. Bởi lẽ đường này và đường Phùng Khắc Khoan là 2 con đường nhiều cây cao, đẹp, mát, yên tĩnh ít xe cộ. Và tôi đã rất nhiều lần đi ngang nhìn từ ngoài vào Era, thấy những ngọn nến lung linh sau ô cửa kính lớn. Để rồi đến một buổi tối trời mưa tầm tã, tôi đã lấy hết can đảm chở cô bạn gái đầu tiên vào thẳng quán cùng lời nói dối: “Hoàng đã vào rồi, quán này sáng lắm chứ không tối đâu”.

Hình chụp bằng máy Sony của Khương và lens Leica Sumilux 35 1.4

Đó là lần đầu tiên tôi bước chân vào quán cách đây 15 năm. Và quả thật là vào rồi mới thấy, ở bên trong Era đủ sáng, đủ ấm và đủ riêng tư để ngồi 1 lần, và giờ là cả 1 đời.

­Era, là nơi chứng kiến mối tình đầu của tôi, và chứng kiến những tan vỡ, những hẹn hò, những cô đơn, mệt mỏi lẫn niềm vui.

Ở Era có 1 bầu không khí riêng, với cái bàn sát ô cửa kính gợi nhớ đến cafe Tùng Đà Lạt. Nhưng bầu không khí ở Era trầm mặc hơn Tùng nhiều. Mỗi góc bàn như 1 thế giới riêng. Những người đến Era để uống cafe cũng thật lạ, dường như bước vào sau cánh cửa gỗ ấy, không ai bảo ai, tự động gọi những thứ đồ uống đơn giản giống nhau mà chẳng cần liếc nhìn vào menu làm gì. Rồi họ ngồi lặng im với cái thế giới riêng của mình.

Hình chụp bằng máy Sony của Khương & lens Leica Sumilux 35 1.4

Và ở Era, tôi tìm thấy cho mình một gười bạn tri âm, tri kỷ: Lê Công Lý.

Về sau này, sau những biến cố, tôi đã 1 thời gian không bước chân vào Era lại. Rời xa cái bầu không khí đặc quánh ám đầy khói thuốc đó, bước đi tìm những không gian sáng sủa, rộng rãi hơn. Nhưng lâu lâu như một nỗi nhớ nhà, tôi lại tạt vào Era ngồi 1 lúc, chỉ ngồi những buổi sớm sớm hoặc giấc ban trưa. Bởi từ sau này, tôi hoàn toàn thay đổi thói quen, không bao giờ cafe vào buổi tối.

Và nhất là, tôi chỉ đến Era mỗi lần tiếp Lý, tiếp Khương trở lại Sài Gòn. Với bạn tri kỷ, ngồi Era như là được về nhà.

Hình chụp bằng máy Sony của Khương & lens Leica Sumilux 35 1.4

Một nơi chốn như vậy, phải mất đến 15 năm tôi mới viết cho nó trọn vẹn được vài dòng, tạm gọi là lưu giữ lại cả 1 miền ký ức đã qua.

Những xúc cảm từ ‘Vĩnh Cửu’

Trong những cuộc phỏng vấn hay trò chuyện trước khi phim ‘Vĩnh Cửu’ chiếu ra mắt, anh Trần Anh Hùng đều nói về việc, anh không phải là chuyển thể 1 tác phẩm văn học thành phim, mà cái anh chuyển là chuyển cảm giác của mình khi đọc tác phẩm ấy thành 1 cuốn phim đến với người xem.

Điều này cũng giống như việc anh đã từng làm với ‘Rừng Nauy’, nên tôi không thấy lạ lẫm mấy. Và cũng vì thế mà tôi gần như không quan tâm đến cuốn tiểu thuyết ‘Nét Duyên Goá Phụ’ của Alice Ferney, bởi vì nếu tách ra thành 1 cuốn sách độc lập thì tôi không có ý định đọc cuốn sách đó bây giờ, mà tôi chỉ muốn xem phim của anh Hùng mà thôi.

Chị Yên Khê khi được mời lên phát biểu trước khi phim chiếu, đã nói rằng: “Mong mọi người có thể mở hết lòng để đón nhận và tận hưởng cuốn phim này.” Và quả thật tối nay, sau rất lâu rồi, tôi mới thấy mình thực sự tận hưởng và rất nhiều cảm xúc hạnh phúc khi xem một cuốn phim đến vậy.

Tôi đã chuẩn bị một tâm thế khá nghiêm trang để xem phim này, vì ban đầu tôi đã nghĩ rằng có thể phim hơi khó xem. Tôi đã nhớ rằng lúc anh Hùng về VN để giới thiệu ‘Rừng Nauy’ ở CGV thì anh đã có nói đến việc anh xem ‘The New World’ của Terrence Malik và phải vỗ đùi đánh đét mà thốt lên rằng: “Cái lão này đã tìm ra được rồi.” Với ‘The New World’ của Terrence Malik thì như anh Hùng nói, ông ấy đã bỏ đi hết tất cả chỉ để giữ lại ngôn ngữ điện ảnh đánh thẳng vào cảm giác của người xem. Tôi phỏng đoán rằng, đây sẽ là cái mà anh Hùng làm với bộ phim tiếp theo của mình. Và đúng là như thế thật. Nhưng theo tôi, anh Hùng đã thành công hơn, vì tôi đã xem ‘The New World’ và không ‘theo’ được chứ đừng nói là cảm nhận thấy gì. Còn với ‘Vĩnh Cửu’ thì hoàn toàn ngược lại.

Suốt hơn 2 tiếng đồng hồ, một bộ phim nói tiếng Pháp, bối cảnh hoàn toàn ở Pháp (chính xác hơn là chỉ gói gọn trong khu vườn, căn nhà, và vài thứ xung quanh), diễn viên Pháp với phục trang từ hơn mấy thập kỷ trước, thế mà tôi hoàn toàn không bị ‘lost’ hay ‘disconnected’ một chút nào. Mà những khung hình đẹp, ánh sáng, con người đẹp, bối cảnh thơ, nhạc điệu hay cứ nối tiếp trước mắt tôi, rồi đi vào óc, vào tim, khiến tôi cứ như đang bềnh bồng ở chính trong cảnh phim ấy, tận hưởng một bản nhạc hay hay là một bức tranh tuyệt đẹp.

Nhưng nếu chỉ là sa đà vào dùng hình ảnh đẹp, ánh sáng đẹp và cầu kỳ, setting đẹp mà thiếu đi cái cảm xúc thật sự dẫn dắt và kết nối với bên trong của người xem, thì bộ phim sẽ chỉ đơn thuần giống như tấm postcard hoặc những thước phim quảng cáo. Mà ở đây, thông qua ngôn ngữ điện ảnh của mình, anh Trần Anh Hùng đã truyền tải trọn vẹn thông điệp về sự ‘vĩnh cửu’: Đó là tình yêu thương. Tình yêu thương giữa đàn ông và đàn bà. Giữa gái và trai. Giữa mẹ và con. Giữa cha và mẹ.

Ngôn ngữ điện ảnh, là 1 thứ nghệ thuật, mà đã là nghệ thuật thì toàn cầu, không phân biệt giới tính, quốc tịch, xuất thân, etc… Và tình thương yêu cũng vậy. Tình thương yêu của người Pháp chắc chắn cũng không khác gì người Việt Nam, hay bất cứ người quốc gia nào. Có khác chăng thì chỉ khác ở cách thể hiện đôi chút thôi. Nhưng trong phim anh Hùng đã hoàn toàn loại bỏ những chi tiết không cần thiết. Và những gì mà anh đã giữ lại trên màn ảnh, suốt hơn 2 tiếng, đã khiến tôi say sưa và xúc động tận đáy lòng.

Anh Hùng đã nói đúng, nghệ thuật là phải đẹp, phải tôn vinh cái đẹp, phải làm sao để thấy trong lòng mình như nở hoa, như có nắng, có mưa, có tình thương dẫn dắt, có ngọt ngào nâng niu. Anh Hùng nói là với phim này anh đã bỏ đi cốt truyện (nhưng vẫn có câu chuyện đàng hoàng), bỏ đi luôn tâm lý nhân vật hay những cảnh tạo dựng nên câu chuyện, lời thoại cũng rất ít, chỉ để tập trung vào việc tạo nên cảm xúc. Nhưng tôi chắc chắn sẽ không bao giờ quên được lời tỏ tình của nhân vật Charles và cô Gabrielle, ở trong phim khi nghe lời tỏ tình tuyệt vời đó, cô Gabrielle đã khóc, và trong lòng tôi cũng vô cùng xúc động.

Sau 6 năm kể từ khi ‘Rừng Nauy’ ra mắt, đến hôm nay tôi lại có được cảm xúc tràn trề đến tận tâm can với ‘Vĩnh Cửu’. Cám ơn anh Hùng vì những gì anh đã làm với điện ảnh, để một khán giả như tôi vẫn còn được tận hưởng niềm vui thú xem một cuốn phim đúng là phim.

Trải nghiệm Tokyo: cảm hứng từ Haruki Murakami – phần 2 & kết.

Ngày cuối ở Tokyo, mưa vẫn tiếp tục từ chiều kéo đến tối. Còn nhiều thứ cần mua sắm trước khi về nên đi qua mấy trung tâm thương mại và siêu thị, nhưng không may là ở Nhật siêu thị đóng cửa lúc…8h. Thế là đành phải qua nhà sách Kinokuniya để mua một vài món quà lưu niệm.

Sau khi ăn tối, cơn mưa cũng vừa dứt, chúng tôi nhắm đến hướng đi về địa điểm cuối cùng trong chuyến đi này: quán Denny’s ở Shinjuku.

Denny’s là một thương hiệu chuỗi nhà hàng phục vụ đồ ăn suốt 24h có mặt ở nhiều quốc gia trong đó có Nhật Bản. Denny’s từng xuất hiện trong tác phẩm “After Dark” của Murakami nhưng không rõ địa điểm chính xác nào. Trong tập truyện đó nhân vật nữ chính đã ngồi trong quán ăn salad gà và đọc sách ban đêm.

Đi từ trung tâm Shinjuku đến Denny’s là hành trình đi qua khá nhiều những khách sạn lớn 5 sao, và hướng đường này thì ít người qua lại, không đông đúc như khu trung tâm. Trời sau cơn mưa mát mẻ, dễ chịu, không khí thoáng sạch và đường không đông đúc khiến cho chuyến đi bộ khá là thoải mái.

Denny

Tiệm Denny’s nhìn từ dưới đất lên. Chụp bằng film khổ vuông 120.

Cuối cùng thì cũng đến Denny’s. Tiệm nằm ở trên tầng, phía dưới là showroom của MiniCooper (mình cũng rất thích MiniCooper). Bước lên cầu thang, đẩy cửa kính bước vào, không gian bên trong tràn ngập ánh đèn vàng ấm áp và yên tĩnh. Một cảm giác ban đầu rất là dễ chịu.

Tôi vào quán lúc này đã hơn 10h30. Quán không đông. Chọn bàn ở băng ghế dài, tựa lưng vào vách kính phía sau. Tuy là nhà hàng thương hiệu của phương Tây, nhưng Denny’s đã ‘Nhật hoá’ toàn bộ thực đơn (chỉ tiếng Nhật không có tiếng Anh). Do đã ăn tối rồi nên tôi chỉ gọi 1 ly kem đào (mùa này đang là mùa đào ở Nhật) và 1 ly vang trắng house wine.

Trong lúc đợi kem, tôi bắt đầu quan sát quán. Đồ nội thất và mọi thứ còn khá mới, sạch sẽ, chẳng lẽ quán này mở chưa lâu, hay là người Nhật họ dọn dẹp lau chùi quá sạch?

Denny-4

Góc trái nhìn từ chỗ tôi ngồi.

Denny-5

Góc phải nhìn từ chỗ tôi ngồi

Quán mở nhạc Jazz nhè nhẹ, đây đúng là không gian lý tưởng để làm việc hay đọc sách buổi tối muộn. Xung quanh tôi chỉ thấy người ngồi đọc sách một mình, hay làm việc cùng nhau. Một lúc sau ly kem của tôi được mang ra. Kem ngon tuyệt. Đào tươi và ngọt mát. Vang trắng chua nhẹ và dễ uống. Tôi tận hưởng ly kem đến khi hết sạch.

Denny-1

Ly kem đào ngon tuyệt.

Sau đó là ngồi nhẩn nha hút thuốc và uống vang trắng. Cảm giác lúc ngồi ở Denny’s có lẽ là dễ chịu nhất trong cả chuyến hành trình ngắn ngủi của tôi. Dù cho lần này đi chẳng có gì khiến tôi thấy khó chịu cả.

Tôi cứ ngồi thế, đến nửa đêm. Đồng hồ chạm mốc 12h đêm. Ở trong truyện, nhân vật ngồi đến 3h sáng thì phải. À, tôi đã chủ đích tìm món salad gà, nhưng tiệm không có món đó, chỉ có Caesar salad và vài loại khác. Lạ phải không? Salad gà vốn là món rất tiêu biểu ở các tiệm ăn Tây thế này mà.

Vừa ngồi tôi ngẫm nghĩ về Murakami. Người ta vẫn nhận định rằng Murakami là nhà văn hậu hiện đại, và chính Murakami cũng từng nói rằng ông bị ảnh hưởng của văn hoá phương Tây nhiều hơn văn hoá Nhật trong sáng tác của mình. Tuy nhiên tôi nhận thấy rằng truyện của ông vẫn rõ ràng truyền tải một tinh thần Nhật. Tinh thần của người Nhật trong thế giới hiện tại. Người Nhật vốn khép kín và lặng lẽ, nhân vật của Murakami thì luôn có cuộc sống ẩn mình, đơn độc, cô đơn. Những người Nhật mà tôi gặp trong chuyến đi, đa số đều giao tiếp tự nhiên, thoải mái, thậm chí là nhiệt tình, chu đáo hết mức. Nhưng tôi mơ hồ tự hỏi, ẩn sâu bên dưới, cuộc sống của họ ra sao. Liệu có 1 thế giới song song nào đó cũng đang chuyển động cùng lúc với thế giới mà tôi đang ngồi ở trong tiệm Denny’s hay không? Những nhân vật của Murakami đều luôn đi tìm, luôn chiến đấu để tìm thấy chính họ, tìm thấy tình yêu và niềm tin, trong một thế giới đầy hỗn độn và đa chiều.

Denny-3

Nhìn qua lớp kính xuống con đường phía dưới quán.

Còn chuyến đi này của tôi, là chuyến đi để tôi tìm lại, tìm lại chứ không phải tìm thấy. Tìm lại tình yêu với âm nhạc, với những đam mê của thời thanh niên. Để được mắt thấy tai nghe những điều trước giờ mình chỉ được xem, được đọc, chỉ được hình dung hay tưởng tượng nên. Cuối ngày, khi ngồi ở Denny’s có lẽ tôi đã tìm được cảm giác bình yên và dễ chịu ở trong lòng. Điều mà tôi đã không có được ở những chuyến đi khác. Nhất định tôi sẽ còn quay lại Nhật. Tôi sẽ đến công viên Koenji, ngồi trên cầu trượt và nhìn lên trời trong một đêm sáng trăng. Và đến khu vườn Tonogayato ngồi đọc một cuốn sách dưới những tán cây.

Sài Gòn, 30 tháng 08, 2016.

Trải nghiệm Tokyo – cảm hứng từ Haruki Murakami: phần 1.

Hành trình đến Nhật của tôi chỉ có vỏn vẹn 5 ngày (không tính 1 ngày đi về). 2 ngày ở Osaka là dành cho Summer Sonic Festival & Radiohead. Còn 3 ngày ở Tokyo, tôi quyết định làm 1 hành trình nho nhỏ, khám phá những địa điểm mà nhà văn Haruki Murakami đã có nêu trong các tiểu thuyết của ông.

3 ngày là 1 khoảng thời gian không nhiều, nếu chia đều cho những hoạt động như ăn uống, mua sắm, etc… nên mỗi ngày tôi chỉ có thể chọn 1 địa điểm có liên quan đến Murakami để khám phá.

Ngày 1, văn phòng của Murakami.

Ngay ngày thứ 1, Tokyo đã chìm trong mưa bão suốt từ sáng sớm. Mưa và gió thổi không ngớt nhưng không thể phí thời gian ngồi nhà, tôi vẫn quyết tâm đi. Địa điểm đầu tiên mà tôi chọn đó là văn phòng của Murakami ở khu Aoyama. Aoyama là 1 khu nằm trong quận Minato ở phía tây bắc Tokyo, nơi đây nằm trên trục đường những cửa hàng thời trang cao cấp và nhà hàng sang trọng. Chúng tôi đi tàu điện ngầm từ ga Shibuya đến ga Meji-jingumae để đi bộ qua khu Cat Street, khu phố thời trang khá cool nằm trong khu Harajuku, trước khi hướng về phía Aoyama. Mưa càng về giờ trưa càng nặng hạt.

Đến khoảng 2h chiều, sau khi trú mưa thì chúng tôi bắt đầu vào khu Aoyama. Đường phố 2 bên khá là yên tĩnh, các khu dân cư nằm xen kẽ với những văn phòng và các studio thời trang. Tôi có được địa chỉ văn phòng của Murakami sau khi đã lục tung mọi ngõ ngách trên Google từ các blog và bài viết về ông. Và cho dù đã từng được cảnh báo trước rằng, ở Nhật mà có địa chỉ trong tay thì đi kiếm nhà cũng như…không có, nhưng tôi vẫn muốn thử xem sao, trải nghiệm mà.

Và sau gần 1 tiếng mò theo Google map, Google không thể định vị được chính xác địa chỉ mà tôi nhập vào, chỉ có thể tìm mang máng cái khu đó, thì tôi đã tin là…mình thất bại. Không thể tìm được vị trí cái nhà đó nằm ở đâu. Chúng tôi quyết định vào 1 tiệm Family Mart gần đó để hy vọng có thể hỏi ra gì đó. Hy vọng loé lên khi chúng tôi may mắn gặp được 1 cô bé bán hàng người Việt, nhưng cô bé sau khi lật bản đồ, cũng không biết địa chỉ này ở đâu. Và cô bé nhờ đến các bạn đồng nghiệp người Nhật, sau 1 lúc họ trao đổi thì thông tin chúng tôi có được cũng chỉ là địa chỉ này nằm ở đâu đó trong khu mà chúng tôi đã đi qua. Chúng tôi quyết định vòng lại đó để tra tìm thật kỹ. Thêm nửa tiếng dầm mưa sục sạo và kết quả vẫn…hệt như cũ. Thật sự bó tay. Tìm kiếm văn phòng của Murakami là thất bại đầu tiên. Và vì trời mưa không ngớt, nên tôi đã không chụp 1 tấm hình nào khu Aoyama này, coi như chuyến đi nửa ngày hoàn toàn là công cốc.

Thật ra thì tôi tìm đến văn phòng của Murakami không phải để tìm cách gặp ông ấy, mà tôi chỉ muốn có dịp đến thật gần, cảm nhận bầu không khí và mọi thứ xung quanh nơi ông vẫn ngồi viết hàng ngày, nhà văn và tác giả mà tôi ngưỡng mộ nhất.

Bonus 2 tấm hình tôi chụp khi ngồi trong 1 quán cafe trú mưa ở khu Aoyama.

Góc quán cafe nhìn ra màn mưa.

Góc từ trong tiệm cafe nhìn ra màn mưa.

 

Tấm này tôi chụp bằng máy phim khổ vuông qua lớp kính. Trời vẫn đang mưa. Và có 2 cặp bố mẹ dẫn 2 con rất dễ thương chia tay nhau đi 2 hướng.

Tấm này tôi chụp bằng máy phim khổ vuông qua lớp kính. Trời vẫn đang mưa. Và có 2 cặp bố mẹ dẫn 2 con rất dễ thương chia tay nhau đi 2 hướng.

Ngày 2, Jazz bar & Nakamuraya cafe

Ai quan tâm thì cũng đều biết Murakami rất mê âm nhạc. Ông có 1 bộ sưu tập đồ sộ đĩa vinyl ở tại văn phòng. Và trong đó nhạc Jazz là loại nhạc đã gắn bó với ông từ thời thanh niên. Murakami đã khởi nghiệp với 1 quán bar nhạc Jazz là Peter Cat tại Tokyo. Và sau này trong tác phẩm của ông cũng xuất hiện 1 quán bar nhạc Jazz, đó là quán DUG.

Quán DUG đã từng xuất hiện trong 1 đoạn ở cuốn “Rừng Nauy”. Đoạn mà nhân vật Toru và Midori, sau 1 giờ học tiếng Đức, đã bắt 1 chuyến xe bus đến khu Shinjuku và vào quán bar ở dưới tầng hầm, để được uống rượu vào buổi chiều mà không cảm thấy xấu hổ, ngại ngùng.

Đây có lẽ là địa điểm dễ tìm nhất trong hành trình khám phá Tokyo theo kiểu Murakami của tôi. Chỉ cần nhập vào Google map “DUG jazz bar” và đi theo hướng mũi tên chỉ, là bạn sẽ đến được quán bar vì có biển hiệu đàng hoàng. Quán mở từ năm 1967 và là 1 trong những quán tiêu biểu cho thời kỳ nhạc Jazz thịnh hành ở Nhật Bản thập niên 60-70s. Quán có những ngày chơi nhạc sống và những ngày không. Lúc chúng tôi đến thì quán chỉ mở DVD nhạc Jazz nhưng vẫn có phụ thu một ít (hình như là 500 Yên thì phải).

Biển hiệu của quán DUG

Biển hiệu của quán DUG

Menu của quán khá là đơn giản, không có gì quá đặc biệt hay signature nên tôi chỉ gọi một ly Old-Fashioned như bình thường. Ly rượu làm ổn, khá giống những ly Old-Fashioned kiểu Nhật tôi vẫn hay uống ở Sài Gòn.

Old-Fashioned cocktail kiểu Nhật.

Old-Fashioned cocktail kiểu Nhật.

Không gian của quán vừa phải, không quá nhỏ, không quá to. Không hiểu sao nhìn những cái bàn gỗ, ngọn nến đặt trên bàn và 1 kệ sách nhỏ, tôi lại nhớ đến Era cafe. Era… nơi tôi đã ngồi và lớn lên suốt thời thanh niên. Và quán này cho tôi cái cảm giác thân thuộc đó. À mà lẽ ra tôi nên gọi Daiquiri chứ không nên uống Old-Fashioned. Daiquiri là món cocktail hay xuất hiện trong cuốn “Phía Nam Biên Giới, Phía Tây Mặt Trời”. Hồi xưa trước khi đọc cuốn đó, có thời gian đến Era buổi tối muộn, tôi rất hay gọi Daiquiri. Rượu ở Era pha nhẹ, ngọt và mát, thêm lớp muối mặn mặn bám ở thành ly, uống rất thích. Nếu có lần sau quay lại, nhất định tôi sẽ uống Daiquiri.

Một góc không gian của quán gợi tôi nhớ về Era cafe.

Một góc không gian của quán gợi tôi nhớ về Era cafe.  

Logo của DUG jazz bar.

Phần này tôi viết hơi ngược một tí. Lẽ ra phải viết về quán Nakamuraya cafe trước, vì chúng tôi đi ăn trước rồi mới đi uống rượu. Nhưng tôi lại thích viết về quán rượu trước, thế nên bây giờ quay ngược lại đi ăn nhé.

Nakamuraya cafe, đây là 1 địa điểm mà tôi gọi là … tricky nhất trong chuyến hành trình khám phá này. Tricky là bởi vì, lẽ ra chúng tôi đã không tìm ra địa điểm này, nếu không có một chút… may mắn, kèm theo cơn đói cồn cào.

Tiệm Nakamuraya cafe này xuất hiện trong cuốn 1Q84, trong một đoạn hội thoại giữa nhân vật chính Tengo và nhân vật Komatsu. Komatsu đã sắp xếp cho Tengo gặp nhân vật cô bé Fuka-Eri vào lúc 6h tối để cho một cuộc nói chuyện dài.

Theo như chỉ dẫn trên các blog thì Nakamuraya cafe cũng nằm ở khu Shinjuku, và gần với nhà sách Kinokuniya. Nhà sách Kinokuniya ở Shinjuku cũng có xuất hiện trong cuốn 1Q84, và nơi đây thậm chí còn là nơi mà Murakami đã khởi nghiệp sự nghiệp viết lách của ông bằng việc đến mua 1 cây bút máy Sailor và 1 tập giấy viết để viết bản thảo truyện ngắn đầu tay.

Hình chụp trước của nhà sách Kinokuniya. Sưu tầm từ: https://randomwire.com/murakamis-tokyo-part-3/

Trở lại với Nakamuraya cafe, thì khi tôi đi theo chỉ dẫn của Google map, tôi đã tìm đến được khu vực đó, nhưng đi qua đi lại mà vẫn không thể xác định được cái quán cafe đó nằm ở chỗ nào. Xem lại các bài review trên blog thì có chụp hình 1 toà nhà mà theo đó thì quán nằm ở tầng 6. Chúng tôi tìm thấy toà nhà đó, nhưng vấn đề là, không có quán Nakamuraya cafe nào ở tầng 6 cả. Mà ở tầng 6 là 1 nhà hàng đồ nướng tên hoàn toàn khác. Dò hết danh sách các quán trong nhà hàng, cũng không thấy có tên Nakamuraya. Tôi bắt đầu hoang mang và nghĩ hay là quán đã đổi địa điểm đi chỗ khác? Google thì vẫn không cho ra được thông tin gì hơn. Quá mệt và đói rồi. Chúng tôi bảo nhau là thôi kiếm quán nào đó ăn đại vậy. Tôi nhìn lại 1 lần nữa vào danh sách các quán trong toà nhà thì thấy có 1 quán ăn càri ở tầng B2 tên là Manna. Ok thôi xuống đó đại vậy.

Trước cửa Manna cafe

Trước cửa Manna cafe

Và thật bất ngờ, khi xuống đến B2, trước mắt chúng tôi chính là quán… Nakamuraya cafe. Vâng, quán Nakamuraya cafe chính là Mana. Vội vàng bước vào, nhìn kỹ thực đơn, tôi thấy có món Nakamuraya curry đặc biệt. Vậy là chắc chắn quán này rồi. Vì Nakamuraya vốn nổi tiếng là nhà hàng đầu tiên mang cari Ấn đến Tokyo. Đồng thời trang phục của nhân viên và lối bày trí cũng giống hệt trong tấm hình trên các blog.

Bìa thực đơn của Manna. Chữ Nakamuraya cafe ở bên dưới.

Bìa thực đơn của Manna. Chữ Nakamuraya ở bên dưới.

Nana-3

Một góc không gian và cách bày trí của quán.

Tôi không ngần ngại gọi ngay 1 set cơm cari đặc biệt và nhân tiện hỏi thăm cô phục vụ là có phải đây là quán mới, còn quán trên lầu 6 là chuyển xuống đây không. Khổ nỗi các bạn cũng biết đấy, người Nhật rất hạn chế tiếng Anh nên họ chỉ có thể nghe và nói những thông tin đơn giản. Nhưng tôi phần nào cũng đã khẳng định được đây chính là quán mà mình tìm rồi.

Set cơm khá là đơn giản và đồ ăn hơi ít so với tôi. Nhưng đồ ăn thật sự rất ngon. Tôi gọi một ly bia tươi Kirin đi kèm theo set. Bia hơi đắng một chút. Thế là cuối cùng thì tôi cũng đã may mắn tìm được quán này. Nếu lúc đó mà chúng tôi bỏ đi chỗ khác, hay lên lầu 6 vào nhà hàng đồ nướng thì chắc chắn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy Nakamuraya cafe ở tầng B2 đâu.

Set cơm cari đặc biệt lựa chọn 2 món. Tôi chọn cari kiểu Nakamuraya và cari rau củ.

Set cơm cari đặc biệt lựa chọn 2 món. Tôi chọn cari kiểu Nakamuraya và cari rau củ.

Cơm đã ăn, rượu đã uống, tôi còn 1 địa điểm cuối cùng của chuyến hành trình, sẽ viết tiếp cho các bạn đọc vào blog sau nhé. Vì blog cũng dài rồi, đọc dài quá ngán lắm :)).

Thơ Vũ Hoàng Chương

Nhờ đọc những ghi chép của nhà văn Mai Thảo mà tôi mới được biết đến nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Sống hơn 30 tuồi đầu ở Sài Gòn mà giờ mới biết đến người từng được mệnh danh là “Thi Bá” của thơ ca Việt Nam. Tôi tự thấy hổ thẹn với những hiểu biết hạn hẹp của mình.
Một buổi chiều Chủ nhật trời cứ nắng rồi lại mưa. Ai bên hàng xóm tập đàn guitar thùng bập bùng. Tôi ngồi đọc thơ Vũ Hoàng Chương. Không dám nhận mình hiểu hay cảm được bao nhiêu. Chỉ biết là đọc xong cứ ngẩn ngơ cả buổi chiều…

Mộng Dao Đài – Vũ Hoàng Chương – in trong tập thơ “Hoa Đăng” – Văn Hữu Á Châu xuất bản năm 1959

Nắng vàng theo gió vàng lên

Có ai theo gió về trên lầu ngà?

Hương bay thềm quế xa xa

Nghìn thu chị Nguyệt chưa già, ai ơi!

Từ theo Trái Đất giong chơi

Vóc băng sương có đầy vơi ít nhiều

Xót thay, lòng vẫn tiêu điều!

Lửa hành tinh, mấy mùa yêu, đã tàn

Ngọc phai vàng tắt dung nhan

Tương tư lạnh khoá cung Hàn từng đêm

Lệ rơi ướt bẩy màu xiêm

Ngang sông quạ réo càng thêm gợi sầu

Lệ rơi xiêm ướt bẩy màu

Ngang sông quạ réo gợi sầu tương tư

Đêm qua gió vẳng lời thơ

Chiều nay lại một chiều mơ xuống trần

Có ai nặng tấm lòng xuân

Từ khi cõi tục xa dần cõi Tiên?

Có ai lòng nặng thiên duyên

Từ khi bụi xóa đường lên non Bồng?

Có ai tình cũ nặng lòng

Từ khi suối thắm nghẹn giòng Thiên-Thai?

Để cho mộng biếc Dao-Đài

Xe mây rẽ lối trần ai một chiều

Tản mạn Sài Gòn

Sao mà nhớ quá những năm mới lớn, lãng mạn đạp xe trong đêm Giao thừa, lang thang hoài các phố, miệng lẩm nhẩm bài ‘Đi qua vùng cỏ non’… Đống lá ven đường ai đốt mà thơm? Nhanh chùa Đại Giác toả thơm lừng trong đêm tối. Ghé nhà cô bạn cùng lớp ở hẻm nhỏ ngã ba Ông Tạ. Tặng bạn báo Xuân, nói mấy câu vụng về rồi luyến tiếc ra về, tự thấy mình ngớ ngẩn. Nhớ cơn mưa hè dữ dội, đạp xe dầm mình thấm nghe nước mưa thấm lạnh, thấy phố xá lạ lẫm như chưa từng qua. Nhớ những đêm cầm gậy đi gác dân phòng gõ cửa lò bánh mì mua ổ bánh nóng, cắn ngập răng với cục chả lụa, muối tiêu. Phố yên ngủ, thẳng tắp, lá khô xào xạc rơi giữa lòng phố rộng thênh… Chim đêm ríu rít trên cành xà cừ. Lũ mèo hoang gào phía nóc nhà ai đó. 

Chiều nay, tôi đứng trên bậc tam cấp nhà Bưu Điện thành phố nhìn ra quảng trường trước mặt. Ráng chiều chưa bao giờ đẹp như thế, làm rực hồng cả khối gạch nhà thờ Đức Bà. Mưa vừa dứt ‘thành phố đẹp như trang hoàng trở lại’ (thơ Nguyễn Nhật Ánh). Văng vẳng tiếng kèn Saxo của ông cụ đeo kính. Nỗi xúc động dâng lên trong tôi… Vẫn là thành phố chất ngất nhà cao, hàng vạn chiếc xe xuôi ngược, ầm ầm tiếng động. Ở gần thấy mệt mỏi vì nó. Đi xa lại nhớ, nhớ da diết. Có phải chăng vì những kỉ niệm, dù rất vụn vặt, rời rạc trong ngăn kéo ký ức của tôi… Một chiều bỗng dào dạt rơi, xoay tít trong tim như những cánh hoa đầu đường Lê Quý Đôn mùa gió nổi. 

Trích “Sài Gòn Nhớ” – tập truyện ngắn “Đường Phượng Bay” của nhà văn Phạm Công Luận,

Hưởng ứng “Cuộc vận động sáng tác truyện và tranh truyện cho thiếu nhi 1993 – 1995”

Bây giờ hình như chẳng còn mấy tác gỉa viết về tuổi hoa niên, tuổi thanh xuân Sài Gòn đẹp và giản dị như này nữa nhỉ… ?

Trong những ngày tự nhiên nhớ Sài Gòn, nhớ những ngày xưa quá đỗi…

Alex Turner, anh là ai?

Why-Alex-Turner-Should-Sing-the-Next-Bond-Theme-Blog-FDRMX

 

Alex David Turner là một nhân vật phức tạp để giải mã. Một thiên tài soạn nhạc và viết ca khúc? Hiển nhiên. Một tay chơi Rock’n’Roll màu mè? Có lẽ. Trong một năm đánh dấu cột mốc của trưởng ban nhạc Arctic Monkeys và trong tuần mà album mới của The Last Shadow Puppets (dự án riêng của Alex và người bạn lâu năm, Miles Kane) được phát hành, cây bút Matt Wilkinson của tuần báo NME đã mang đến cho chúng ta bài viết về một nhân vật cực kỳ khó nắm bắt của thế giới âm nhạc.

Trước khi dịch toàn bài của Matt, xin được nói rằng cá nhân tôi đã có 1 ‘tình yêu’ dành cho Alex Turner từ những ngày đầu nhìn thấy anh chơi nhạc. Cũng giống như tôi dành tình yêu cho Murakami hay Radiohead hay Manchester United, thật sự rất khó và gần như không thể nói được lý do tại sao tôi lại yêu thích anh chàng này đến vậy. Tôi chỉ biết rõ 1 điều rằng, cái tình yêu mà tôi dành cho anh ta và âm nhạc của anh ấy không phải kiểu thích điên cuồng trong 1 giai đoạn nào đó rồi thôi. Mà nó cứ âm ỉ và ngày càng trưởng thành theo năm tháng, theo dòng đời mỗi lúc tôi lớn lên. Và đến tận hôm nay, tôi mới ‘mượn’ được bài viết này, để kể cho bạn câu chuyện về Alex.

—-

Tháng 12 năm 2003, cậu bé Alex Turner 17 tuổi, tung tăng tự do ở London, đã nghĩ rằng mình đang ở những tháng ngày hạnh phúc nhất. Qua đêm trong căn phòng giá 30 bảng của Golders Green B&B, đắp chung chăn với 2 cậu bạn thân Matt Helders và Ander Nicholson, chàng barman bán thời gian đến từ Shefflied ấy trông coi một trong những địa điểm tổ chức âm nhạc nổi tiếng nhất phía Bắc London, Alexandra Palace. Thời ấy, band The Strokes đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, có một buổi diễn trên sân khấu tại đó, cậu bé fanboy Alex đã có cơ hội được gặp 2 thần tượng của mình, trưởng nhóm The Libertines Pete Doherty và tay guitar chính Carl Barat cũng đang đứng trong đám đông xem show diễn.

Trò chuyện với NME năm 2011, Turner vẫn còn hào hứng nhớ lại ‘cuộc phiêu lưu nho nhỏ’ mà cả bọn đã có đêm hôm ấy. ‘Có thể là mấy chú ấy ghét nghe điều này lắm’, Alex tuôn ra khi nói về The Strokes, ‘nhưng họ là band nhạc mà khuyến khích tôi xé toạc gối quần jeans rồi viết lên đó bằng bút lông không xoá được. Tôi đã viết lên đó dòng mực đỏ: ‘I’ve got soul and I’m superbad!”

Alex chụp hình chung với The Strokes

Chính xác 2 năm kể từ show diễn đó, con tạo đã xoay vần đến mức không thể nào hình dung ra được. Lần này, đến lượt The Strokes là những người há hốc mồm chứng kiến một band nhạc mới siêu hay ho có tên gọi Arctic Monkeys chơi 25 phút tái hiện lại những âm thanh kinh điển một thời mà The Buzzcocks đã từng tạo ra, kể từ ngày mà 2 bậc tiền bối Johnnys (Ramones và Rotten) đã sáng tạo nên nhạc Punk hơn 3 thập niên về trước. Đó cũng là thời điểm mà Turner (cùng đồng bọn: Nicholson, Helders và Jamie Cook) đã hoàn toàn soán ngôi của thần tượng Doherty trở thành những người viết nhạc hàng đầu UK, sẵn sàng để bước ra sàn diễn toàn cầu.

Và ngày hôm nay, chàng ta vẫn vững vàng ở đó. Những tác phẩm của chàng đã nhận được vô vàn lời ca ngợi, từ huyền thoại chân thành như David Bowie: “một niềm vui thích đấy.” cho đến tay to nhạc Rap Diddy: “Arctic Monkeys quá hay ho đi chứ!!!” thậm chí đến chính trị gia như Gordon Brown (nhưng thôi tốt hơn hết là không nên trích dẫn) và thậm chí là nhà thơ Simon Armitage: ‘Chúa phù hộ cậu ấy.’ Và hãy đối mặt với sự thật đi, có thể là bạn cũng phải ngợi khen cậu ta nữa rồi.

Nhưng điều gì đã thật sự lên dây cót cho Alex Turner chạy nhanh đến thế? Suốt 5 năm qua tôi đã phỏng vấn cậu ấy vô số lần, chứng kiến cậu chàng phát triển và tiến bộ. Tháng 1 năm nay, Alex sẽ đánh dấu tuổi 30 và chỉ vài tuần sau đó là kỉ niệm 10 năm Arctic Monkeys thay đổi cuộc đời với album đầu tay ‘Whatever People Say I Am, That’s What I Am Not’. Tuần này, LP thứ 2 của cậu chàng và anh bạn thân Miles Kane, dự án bên lề The Last Shadow Puppets sẽ trình làng với cái tên ‘Everything You’ve Come To Expect’. Và lúc này, Alex đã và đang sống một lúc nhiều cuộc đời, xẹt qua lại khắp nơi trên thế giới, biến hình thành 1 hoàng tử RocknRoll thực thụ: tóc bóng mượt, đĩa nhạc vàng, sống thượng lưu ở LA và một danh sách cặp bồ hạng A hoàn hảo.

33aecd07cf74f86089055e9b907f4a10

Trong lần được feature lên bìa NME đầu tiên năm 2005, Alex đã nói: “Tôi thích nghĩ rằng mình đang đi trên dây nối giữa 2 đầu 1 là Mike Skinner (một rapper indie người Anh) và một đầu là Jarvis Cocker (trưởng nhóm Pulp – một trong những ban nhạc định hình nên Britpop thập niên 90). Một lời tuyên bố rất ‘chất’ nhưng chính bản thân Alex cũng biết rằng, điều đó sẽ không thể kéo dài. Cũng như Cocker đã từng nhảy ra trước khi con tàu Britpop chìm đắm năm 1997, Turner đủ tinh khôn cho dù mới 19 tuổi để biết rằng, mặc cho Arctic Monkeys đang là một hiện tượng thời bấy giờ, cậu chàng sẽ không thể nào cứ tiếp tục viết lặp đi lặp lại những ca khúc như đã làm trước đó: hoành tráng, tươi vui, những ca khúc ‘quốc dân’ về việc chứng kiến những ban nhạc tệ hại chơi ở Sheffield nơi Alex làm bar tender (bài “Fake Tales of San Francisco”) hay về những cuộc chạm trán kỳ lạ với những gã cặn bã bên ngoài phòng tập của Arctic Monkeys (‘When The Sun Goes Down’) và về việc nghèo rách túi chỉ thèm khát có được một đôi sneaker Reebok mới (bản ‘A Certain Romance’).

Arctic Monkeys 2005

Trò chuyện với anh chàng nhiều năm sau khi sự cuồng về việc Arctic Monkeys-mang-chất-Beatles lắng xuống, Turner nói với tôi rằng anh chàng đã sững sờ chết điếng về những thứ tào lao mà mọi người gán cho anh. Một trong những sự kiện đáng nhớ là trong vòng 6 tháng kể từ lần lên bìa và phỏng vấn độc quyền đầu tiên, Alex đã tự ‘phản bội’ lại chính bản thân mình trước đó bằng việc tuyên bố rằng đĩa đơn ‘Leave Before The Lights Come On’ sẽ là lời chia tay của anh dành cho một Alex Turner mà cả đất nước đang mê đắm và kỳ vọng. “Đó là ca khúc cuối mà tôi viết về việc đi chơi lòng vòng và mọi kiểu thế,’ cậu chàng giải thích, nhằm vĩnh viễn đóng lại một chương trong cuộc đời. ‘Cuộc sống của tôi bây giờ thật sự không giống anh chàng đó chút nào nữa rồi.”

Và quả thật là kể từ đó, Alex đã gần như phải tự mình lột xác rất nhiều lần nữa. Mỗi ca khúc mà anh chàng viết trong album thứ 2 “Favourite Worst Nightmare’ đều trưởng thành và chững chạc hơn, màu sắc đa dạng hơn và thậm chí là kỳ lạ hơn những chất liệu mà anh đã có khi còn teen, và mỗi mẻ anh cho ra đời sau đó đánh dấu một chặng đường anh đã đi xa hơn từ xuất phát điểm Shefffield ban đầu.

“Việc bạn có thể nhìn được qua vai mình có ý nghĩa quan trọng thế nào bạn biết không?” Anh ta đã hỏi như thế trong thông cáo báo chí đi cùng với album ‘Everything You’ve Come To Expect”.

“Chẳng phải là nó chẳng hề hào hứng hay thú vị khi cứ ôm mãi vào một điều gì đó hay một quan điểm của ai đó – bằng việc để cho điều đó ra đi và khám phá những gì đang diễn ra trước mắt bạn?”

Đây chính là điểm then chốt làm nên Alex Turner 2016. Đó là lý do giải thích cho việc trong khi cả nền báo chí Anh đang bận rộn với việc tâng bốc cậu chàng là một ‘Noel Gallager mới’ hồi 2005 (Noel Gallagher là người sáng tác chính, guitar chính của Oasis, ban nhạc đã làm nên Britpop) thì chàng ta đã bỏ hết những vị thế để trở thành ‘cậu bé vàng’ của kỷ nguyên Britpop 2.0 mà chạy thẳng đến sa mạc California với trưởng nhóm Queens Of The Stone Age Josh Homme. 2 ban nhạc đã đi tour cùng nhau năm 2007, và từ đó gã Rocker người Mỹ đã trở thành một hình tượng kiểu Jedi knight (hiệp sĩ Star Wars) đối với Arctic Monkeys, mà nhất là với Turner.

Nó cũng giải thích cho việc khi mà album ‘Humbug’ do Homme sản xuất cho Arctic Monkeys đậm chất pyschedelic đã khiến rất nhiều fans của Monkeys hoảng sợ, Turner vẫn có thể phản ứng một cách rất thông minh và đảo chiều khi ngay sau đó cho ra đời album ‘Suck It and See’ 2011 đầy nhịp điệu và đậm chất New York, trong đó kể về sự mê đắm của anh với cô bạn gái nổi tiếng Alexa Chung – fashionista và người dẫn chương trình truyền hình – trước khi hoàn toàn thu mình để tránh khỏi cái thế giới nhơ nhớp ‘sau giờ làm’ của Hollywood mà anh đã trải nghiệm trong một album mê hoặc toàn thế giới: “AM” ra đời vào 2013.

Alex Turner & Noel Gallagher

Alex Turner sẽ luôn chuyển động và luôn luôn làm việc. Nó là tinh thần không bao giờ ngoái đầu nhìn lại và nó cũng giải thích cho việc tại sao sau này Monkeys rất hiếm khi chơi live lại những sáng tác trong 2 album đầu tay. “Chơi lại mấy ca khúc đó để làm gì khi mà tụi tôi bây giờ không còn ở trong mấy bài hát đó nữa rồi?”, anh chàng đã nói thẳng với tôi như vậy. “Nó như kiểu tụi tôi đang phải chơi cover lại mấy bài hát khác, nhưng dù thế nào thì cũng không thể cover lại ‘Fake Tales of San Francisco’ được đâu…”

Lúc nói ra câu đó, Alex đang ngồi trong chuyến xe bus đi tour cho album ‘Suck It And See’, ngay trước khi cả band bắt đầu cho 1 chuyến hành trình đầy nghiêm túc tiến đến Hoa Kỳ.  Turner, giờ đây tóc chải ngược bóng lộn, mới vừa cắt phang kiểu tóc bob mái ngang như thời Beatles, nhìn từ đầu đến chân mỗi inch đầy chất Rockstar: áo da đen tuyệt đẹp, kính phi công gọng vàng, quần jeans Levis’ kiểu Joe Strummer (ca sĩ chính người Anh của nhóm The Clash), boots da đen cổ cao bụi bặm, nhẫn và dây chuyền vàng to bản. Cậu chàng cứ loay hoay liên tục, thảy 2 cục xúc xắc nhỏ vòng quanh cái bàn trong khi suy nghĩ và cân nhắc một cách chậm rãi – nhưng dường như không thể tìm được câu trả lời – về việc làm thế nào thành công lại đến với mình như thế.

Đó chính là cách mà Turner thể hiện trong những buổi trả lời phỏng vấn. Đầy cân nhắc, tinh tế nhẹ nhàng, yên lặng và hết sức cẩn trọng. Khi ngồi cùng với những thành viên của band, anh chàng sẽ gần như đợi mọi người nói xong hết rồi mới kết thúc bằng những câu chốt đầy thú vị và thông minh. Anh chàng sẽ nhăn mặt nếu bạn có ý định ‘hỏi xoáy đáp xoay’ về những chủ đề ‘sâu sắc’ như lyrics các ca khúc của chàng chẳng hạn – trước mặt mọi người (“Đừng làm như vậy với tui nhé Matthew, không phải là trước mặt mấy thằng bạn tui.” Nhưng khi bạn có dịp ngồi một mình với anh ấy, cậu chàng sẽ cởi mở một cách bừng sáng, dẫn dắt và khơi mào cho mọi dòng chảy đối thoại như thể lời lẽ tuôn ra suối chảy trên những bản thu âm.

“Tui nói với anh là tui có 1 cái bảng phóng phi tiêu, phải không nhỉ?” chàng ta đã nói chuyện đó 1 lần rồi, như thể anh ta đang dẫn dắt bạn vào một bí mật to lớn khi giải thích về quy trình viết nhạc cho album ‘AM’. Và theo 1 cách nào đó, với Turner, thậm chí một việc rất bình thường như việc chơi phóng phi tiêu ở trong căn hộ cũng có thể biến thành một nguồn cảm hứng, một thông điệp cho việc sáng tạo. “Tui sẽ chơi phóng phi tiêu, và chắc chắn sẽ có 1 sự đối xứng giữa việc cố gắng định hình những dòng lyrics đang vẩn vơ loanh quanh với việc ghim phi tiêu vào cái bảng. Nó kỳ cục.”

Hẳn Alex là một kẻ mộng mơ, vĩnh viễn muôn đời anh ta vẫn như thế – mặc cho anh ta đang trú ngụ hay xuất phát điểm từ chốn nào. Đây có lẽ là cái đã xúi giục tạo nên sự thay đổi lớn nhất trong con người Turner khi anh ta càng lúc càng già đi. Càng để cho cái tính cách ấy thẩm thấu qua những ca khúc , đổi thay tiết tấu từ kiểu bắn liên hồi của những bản nhạc thuởu hỉ mũi chưa sạch như ‘The View From The Afternoon’ và ‘Teddy Picker’ đến những ca khúc ngày một gợi tình và tự do thoải mái như ‘No 1 Party Anthem’, ‘Miracle Aligner’, Alex ngày càng dấn sâu và thể hiện vai trò của một người sáng tác nhạc.

“Thật lòng thì bạn chẳng thể nào dự doán chuyện quái gì sẽ đến tiếp theo với Arctic Monkeys”, người quản lý của ban nhạc, Ian McAndrew đã nói ở diễn đàn Music Business Worldwide 2015. “Nhưng bất kể họ làm gì, bạn sẽ không bao giờ có thể mất niềm tin, nhất là với Alex khi anh chàng viết nhạc. Kỹ năng và sự trữ tình trong âm nhạc của cậu ấy luôn phát triển. Cậu ấy là một nhà soạn nhạc vô cùng đặc biệt.”

Và là một người không bao giờ ngừng nghỉ. Năm ngoái, cậu chàng tiêu tốn 1 cách nghiêm túc toàn bộ khoảng thời gian nghỉ Arctic Monkeys vào việc viết nhạc và thu âm cho album ‘Everything You’ve Come To Expect’, rồi một vài ca khúc cho ban nhạc L.A Mini Mansions và theo như được biết, là anh chàng còn làm cả 1 album bí mật cho Alexandra Savior – người được mệnh danh là 1 Lana Del Rey mới của nước Mỹ.

Phản chiếu điều đó với khoảng thời điểm 2008 và 2010 khi những thành viên còn lại của Arctic Monkeys đều dành 1 khoảng thời gian cần thiết để nghỉ ngơi giữa những albums, Turner mặt khác thì lại lao vào viết nhạc và ra mắt album đầu tay với dự án The Last Shadow Puppets, rồi thu âm cho nhạc film Submarine của Richard Ayoade. Tính đến hiện tại, anh chàng đã có gần 150 ca khúc ra mắt từ 2005, cạnh tranh với con số 180 của 2 huyền thoại Lennon & McCartney ở thời hoàng kim của The Beatles và thậm chí hơn Noel Galler lẫn Radiohead làm được trong 1 thập kỷ đầu tiên của họ.

Và đến bình minh của 2016 Turner sẽ chính thức bước vào tuổi 30, chàng ta không hề nôn nóng về việc kỷ niệm 10 năm album đầu tay ‘Whatever People Say I Am, That’s What I Am Not’. Thay vào đó, công ty thu âm của anh chàng – Domino – dành tuần lễ kỷ niệm để thông báo về việc phát hành album ‘Everything You’ve Come To Expect’.

Được thu âm tại phòng thu Shangri La của nhà sản xuất Rick Rubin dưới những rặng dừa Malibu suốt những tháng cuối 2015, cấp độ ghê gớm của việc thay đổi nơi chốn này so với những gì từng là xuất phát điểm của Turner có thể khiến những ban nhạc thấy hoảng chứ đừng nói đến fans. Họ dùng cái xe bus đi tour cũ của Bob Dylan làm nơi mix nhạc, đốt nhang trầm suốt ngày và bạn có thể ngửi thấy mùi Thái Bình Dương qua làn hơi ấm áp thanh bình nhiệt đới.

tumblr_o34xmk81Zk1thz4e2o1_1280

Alex Turner & Miles Kane: “Everything You’ve Come To Expect” 2016

Nhưng cái lâu dài và điều quan trọng nhất với Turner khi cậu chàng ngày càng trưởng thành hơn – mà vẫn là một trong những người sáng tác đầy cảm hứng và làm say đắm số 1 nước Anh – đó là điều làm nên con người anh ấy: không bao giờ ngừng nghỉ, cứ mãi kiếm tìm và hoàn toàn kiên định trong khát khao không bao giờ ngủ quên trên những vinh quang quá khứ.

“Viết nhạc với tôi như ngồi chờ đợi được giao hàng đến,” (chắc là anh ấy muốn nói đến sự bồn chồn, sốt ruột mong ngóng – chú thích của người dịch) anh ta từng nói 1 lần khi tôi hỏi tất cả những cái này đến từ đâu. “Luôn luôn có 1 cái gì đó…biết đâu nó sẽ biến mất 1 ngày nào đó? Lúc đó thì tôi có thể bỏ cuộc và đi làm vườn hay gì đấy.’ Cậu chàng tiu nghỉu trước khi yên lặng quay trở về với cuộc trò chuyện. “Nhưng nói thật với anh, tôi làm gì có thời gian mà lo chuyện đó.”

Dịch bởi indieglory – Saigon, 06.05.2016 

 Nguyên gốc bài viết của Matt Wilkinson: http://www.nme.com/features/who-is-alex-turner-the-full-nme-cover-feature