Những xúc cảm từ ‘Vĩnh Cửu’

Trong những cuộc phỏng vấn hay trò chuyện trước khi phim ‘Vĩnh Cửu’ chiếu ra mắt, anh Trần Anh Hùng đều nói về việc, anh không phải là chuyển thể 1 tác phẩm văn học thành phim, mà cái anh chuyển là chuyển cảm giác của mình khi đọc tác phẩm ấy thành 1 cuốn phim đến với người xem.

Điều này cũng giống như việc anh đã từng làm với ‘Rừng Nauy’, nên tôi không thấy lạ lẫm mấy. Và cũng vì thế mà tôi gần như không quan tâm đến cuốn tiểu thuyết ‘Nét Duyên Goá Phụ’ của Alice Ferney, bởi vì nếu tách ra thành 1 cuốn sách độc lập thì tôi không có ý định đọc cuốn sách đó bây giờ, mà tôi chỉ muốn xem phim của anh Hùng mà thôi.

Chị Yên Khê khi được mời lên phát biểu trước khi phim chiếu, đã nói rằng: “Mong mọi người có thể mở hết lòng để đón nhận và tận hưởng cuốn phim này.” Và quả thật tối nay, sau rất lâu rồi, tôi mới thấy mình thực sự tận hưởng và rất nhiều cảm xúc hạnh phúc khi xem một cuốn phim đến vậy.

Tôi đã chuẩn bị một tâm thế khá nghiêm trang để xem phim này, vì ban đầu tôi đã nghĩ rằng có thể phim hơi khó xem. Tôi đã nhớ rằng lúc anh Hùng về VN để giới thiệu ‘Rừng Nauy’ ở CGV thì anh đã có nói đến việc anh xem ‘The New World’ của Terrence Malik và phải vỗ đùi đánh đét mà thốt lên rằng: “Cái lão này đã tìm ra được rồi.” Với ‘The New World’ của Terrence Malik thì như anh Hùng nói, ông ấy đã bỏ đi hết tất cả chỉ để giữ lại ngôn ngữ điện ảnh đánh thẳng vào cảm giác của người xem. Tôi phỏng đoán rằng, đây sẽ là cái mà anh Hùng làm với bộ phim tiếp theo của mình. Và đúng là như thế thật. Nhưng theo tôi, anh Hùng đã thành công hơn, vì tôi đã xem ‘The New World’ và không ‘theo’ được chứ đừng nói là cảm nhận thấy gì. Còn với ‘Vĩnh Cửu’ thì hoàn toàn ngược lại.

Suốt hơn 2 tiếng đồng hồ, một bộ phim nói tiếng Pháp, bối cảnh hoàn toàn ở Pháp (chính xác hơn là chỉ gói gọn trong khu vườn, căn nhà, và vài thứ xung quanh), diễn viên Pháp với phục trang từ hơn mấy thập kỷ trước, thế mà tôi hoàn toàn không bị ‘lost’ hay ‘disconnected’ một chút nào. Mà những khung hình đẹp, ánh sáng, con người đẹp, bối cảnh thơ, nhạc điệu hay cứ nối tiếp trước mắt tôi, rồi đi vào óc, vào tim, khiến tôi cứ như đang bềnh bồng ở chính trong cảnh phim ấy, tận hưởng một bản nhạc hay hay là một bức tranh tuyệt đẹp.

Nhưng nếu chỉ là sa đà vào dùng hình ảnh đẹp, ánh sáng đẹp và cầu kỳ, setting đẹp mà thiếu đi cái cảm xúc thật sự dẫn dắt và kết nối với bên trong của người xem, thì bộ phim sẽ chỉ đơn thuần giống như tấm postcard hoặc những thước phim quảng cáo. Mà ở đây, thông qua ngôn ngữ điện ảnh của mình, anh Trần Anh Hùng đã truyền tải trọn vẹn thông điệp về sự ‘vĩnh cửu’: Đó là tình yêu thương. Tình yêu thương giữa đàn ông và đàn bà. Giữa gái và trai. Giữa mẹ và con. Giữa cha và mẹ.

Ngôn ngữ điện ảnh, là 1 thứ nghệ thuật, mà đã là nghệ thuật thì toàn cầu, không phân biệt giới tính, quốc tịch, xuất thân, etc… Và tình thương yêu cũng vậy. Tình thương yêu của người Pháp chắc chắn cũng không khác gì người Việt Nam, hay bất cứ người quốc gia nào. Có khác chăng thì chỉ khác ở cách thể hiện đôi chút thôi. Nhưng trong phim anh Hùng đã hoàn toàn loại bỏ những chi tiết không cần thiết. Và những gì mà anh đã giữ lại trên màn ảnh, suốt hơn 2 tiếng, đã khiến tôi say sưa và xúc động tận đáy lòng.

Anh Hùng đã nói đúng, nghệ thuật là phải đẹp, phải tôn vinh cái đẹp, phải làm sao để thấy trong lòng mình như nở hoa, như có nắng, có mưa, có tình thương dẫn dắt, có ngọt ngào nâng niu. Anh Hùng nói là với phim này anh đã bỏ đi cốt truyện (nhưng vẫn có câu chuyện đàng hoàng), bỏ đi luôn tâm lý nhân vật hay những cảnh tạo dựng nên câu chuyện, lời thoại cũng rất ít, chỉ để tập trung vào việc tạo nên cảm xúc. Nhưng tôi chắc chắn sẽ không bao giờ quên được lời tỏ tình của nhân vật Charles và cô Gabrielle, ở trong phim khi nghe lời tỏ tình tuyệt vời đó, cô Gabrielle đã khóc, và trong lòng tôi cũng vô cùng xúc động.

Sau 6 năm kể từ khi ‘Rừng Nauy’ ra mắt, đến hôm nay tôi lại có được cảm xúc tràn trề đến tận tâm can với ‘Vĩnh Cửu’. Cám ơn anh Hùng vì những gì anh đã làm với điện ảnh, để một khán giả như tôi vẫn còn được tận hưởng niềm vui thú xem một cuốn phim đúng là phim.

Advertisements

Ở tận cùng, tình yêu là tất cả.

Tôi chỉ mới xem ‘Interstellar’ đến lần thứ 2. Có lẽ vẫn chưa thể nào đủ để viết ‘một cái gì đó hoành tráng’ về bộ phim này. Nhưng viết đôi chút thì có lẽ là có thể.

BÀI VIẾT CÓ TIẾT LỘ NỘI DUNG PHIM. VUI LÒNG CÂN NHẮC KHI ĐỌC TIẾP.

Chúng ta sẽ không thể nào cứu Trái Đất, việc Trái Đất phải tận thế được lồng gọn trong 1 câu nói của định luật Murphy: ‘điều gì phải xảy ra thì sẽ phải xảy ra’. Tất yếu sẽ là như vậy.

Nhưng sự tận thế không đến ngay lập tức, mà nó đến 1 cách từ từ, kéo dài, bằng những sự thay đổi từ những yếu tố tự nhiên trước: không khí ngày càng ít đi, chỉ còn lại đa số là nito, nấm mốc ngày càng nhiều, thực phẩm khan hiếm, bão cát bắt đầu, năng lượng cạn kiệt… Nolan đã dành cả hơn 1/3 đầu phim để khiến người xem cảm thấy sự kéo dài lê thê và bức bí này. Và hành trình cùng thời gian, không gian bắt đầu từ đây.

Thời gian và không gian là 2 yếu tố quan trọng nhất, đối với bất kỳ 1 cuộc du hành nào. Và nhất là du hành đến những vì tinh tú thì 2 yếu tố này lại quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Thời gian ở hành tinh này, thuộc hệ này là 1 năm thì ở hành tinh khác, thuộc hệ khác sẽ là 10 năm. Không gian thì bao gồm có hành tinh, hệ Mặt trời, hố đen, không gian 3 chiều, 5 chiều…

2 yếu tố đó trong bộ phim này, không đơn thuần là bối cảnh, mà đóng vai trò như 2 nhân vật, được Nolan thể hiện đầy sống động. Từ việc diễn giải thuyết tương đối của thời gian, cho đến việc đưa thời gian trở thành 1 cái ‘chìa khoá’ trong mối quan hệ giữa nhân vật Cooper với con gái mình, giữa quá khứ kết nối với hiện tại rồi tương lai của các nhân vật trong film. Tương lai sẽ đến từ những gì ta làm trong hiện tại. Và quá khứ là điều mà ta không thể nào thay đổi được nữa. ‘Họ không gửi chúng ta đến đây để thay đổi quá khứ, để cứu lấy trái đất. Chúng ta tự mang chúng ta đến đây. Để thay đổi tương lai.’

Còn với không gian, thì quả thật Nolan đã bỏ công sức ra quay trên chính bối cảnh thật, hạn chế việc sử dụng phông xanh hay kỹ xảo, với mục đích là để chính diễn viên được sống thật trong không gian đó, và người xem, cuối cùng sẽ cảm thấy như mình đang đứng ở đó, ngay tại đó, trong chuyến hành trình. Từ không gian nhỏ bé chật hẹp trên tàu vũ trụ, tới những không gian bao la rộng lớn của các hành tinh, hay không gian huyền bí và mênh mang vô định ở trong lỗ đen, ngoài vũ trụ… Với tư cách là một người xem, tôi đã thật sự cảm thấy được 2 yếu tố đó 1 cách trọn vẹn nhất.

Giờ thì hãy nói về ý nghĩa thật sự của bộ phim. Đầu tiên phải khẳng định rằng đây là 1 phim dựa trên nền tảng khoa học viễn tưởng. Tuy nhiên Nolan, như cách ông vẫn làm phim từ trước đến nay, không bao giờ làm bừa, mà thật sự đã có 1 nhà vật lý lý thuyết chuyên về vật lý vũ trụ tham gia vào quá trình tư vấn và sản xuất của bộ phim, để giúp cho bộ phim bám sát với lý thuyết khoa học nhất có thể, đó là Kipp Thorne. Không chỉ có Kipp Thorne, mà 1 nhà sản xuất quan trọng khác của Interstellar là Lynda Obst, là người đã từng tham gia sản xuất 1 phim cũng về đề tài viễn tưởng, cuộc sống ngoài Trái đất là phim ‘Contact’ năm 1997, cũng có Matthew đóng vai chính. Trùng hợp chăng?!

Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì vẫn phải khẳng định rằng đây là 1 phim khoa học viễn tưởng, chứ không phải là phim tài liệu về khoa học vũ trụ hay vật lý, nên những vấn đề đặt ra trong phim như lỗ đen, hố sâu … có thể đúng hoặc không không phải là điều quan trọng nhất.

Quan trọng nhất là, Nolan đã kết hợp những yếu tố đó lại với nhau, để tạo nên 1 hành trình về mặt trải nghiệm cho người xem, để dẫn đến kết thúc cuối cùng là: ‘Ở tận cùng, tình yêu là điều cuối cùng quan trọng nhất. Tình yêu là thứ duy nhất dẫn chúng ta vượt qua cả không gian lẫn thời gian. Tình yêu là thứ cho chúng ta lòng can đảm, để bước chân vào nơi tăm tối nhất, vô định nhất, để hòng tìm kiếm điều mà con tim mách bảo.

Ở trong phim, khi Cooper rơi vào hố đen và lọt vào không gian 5 chiều, cái mà theo giả thuyết là do ‘họ’ tạo ra, thì điều này phân tích ở góc độ logic thực tế thì sẽ thấy khá hoài nghi, nhưng ở 1 khía cạnh khác phi logic thì lại thấy hợp lý.

Đó là, ta vẫn thường hay có câu ‘Cám ơn Người/Chúa/Trời/Thánh đã mang con đến đây, cho con gặp được người này…’ Chẳng phải ta thường nói là, mọi sự trong cuộc đời gặp nhau là bởi duyên trời định, số phận đặt ra đó hay sao? Duyên số hay gì đó, chẳng phải là do ‘tạo hoá’ sắp đặt đấy à? Nhưng tạo hoá nào thì cũng phải đi ra từ chính con người. Suy nghĩ của con người, tạo nên từ trái tim, từ não bộ, có 1 sức hút vô cùng mạnh. Ta nghĩ đến ai mãi, thì lúc nào đó tự nhiên sẽ gặp. Ta nghĩ đến việc gì suốt, mong mỏi điều gì đủ nhiều, tự ta sẽ tìm cách làm cho được điều đó.

Và quay lại ở đây, chính tình yêu to lớn của Cooper dành cho con gái đã khiến bước lên cuộc du hành, rồi bị hút vào cái không gian đó, để gặp lại cô bé, truyền cho cô bé thông điệp để cho bước tiếp theo. Hay như Brand, chính tình yêu của cô dành cho Edmund đã dẫn cô đến với hành tinh nơi anh ta phát đi tín hiệu, và đó mới chính là thế giới tương lai của loài người sau Trái Đất.

Bộ phim, còn là rất nhiều những chất liệu mà ta sẽ bắt gặp, ở những tác phẩm mà Nolan đã từng làm: ‘The Dark Knight’, ‘Inception’… chẳng hạn như lý luận, ‘liệu rằng, ở tận cùng, thì yếu tố sinh tồn sẽ là mạnh nhất, là cái chiến thắng mọi thứ?’ Có thể là không. Sinh tồn có thể giúp anh chiến thắng hay vượt qua ở 1 giai đoạn nào đó, nhưng đó không phải là yếu tố thúc đẩy sự tiến bộ hay phát triển của nhân loại.

Tóm lại, với Interstellar, tôi hoàn toàn thoả mãn về phần nghe, nhìn và nhất là cảm xúc. Câu chuyện có thể không thuyết phục 100%, nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất.

Quan trọng nhất là, ‘ở tận cùng, tình yêu tạo nên tất cả.

À và, chúng ta sẽ không thể nào một mình làm nên mọi chuyện được đâu, cần phải có 1 đội hay ít nhất, là phải có bạn đồng hành cùng làm nên chuyện đó. Như Cooper có Tars hay Brand vẫn ngày ngày đợi chờ 1 ai đó đến tìm cô vậy đó ;).

 

P.S: Bài viết chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót và nhiều khía cạnh chưa đề cập đến của bộ phim. Vì thế rất mong nhận được đóng góp của các bạn J.

Về ‘Gone Girl ‘ và Bạch Dạ Hành.

Bài viết có tiết lộ nội dung phim & truyên. Vui lòng cân nhắc khi xem.

—–

Tôi xem ‘Gone Girl’ ngày hôm qua. Và cả ngày hôm nay tôi vẫn còn phấn khích bởi bộ phim. Phải rồi, đó là 1 tác phẩm của David Fincher cơ mà. Nhưng lý do sâu xa hơn mà bộ phim khiến tôi bị rung động, không đơn thuần là bởi nó hay, mà vì nó còn có 1 sự liên tưởng đặc biệt đến 1 cuốn tiểu thuyết mà tôi bị ‘ám ảnh’ gần đây: Bạch Dạ Hành của Higashino Keigo.

Gone Girl poster

Nghe như không liên quan lắm, nhỉ? Dĩ nhiên rồi, Gone Girl được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Gillian Flynn thì liên quan gì đến cuốn tiểu thuyết kia chứ? Vâng, 2 cuốn tiểu thuyết tách biệt, nội dung cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng có 1 mối liên hệ duy nhất: đề tài về tội ác và sự ma quỷ của 1 người phụ nữ.

Ở Gone Girl thì đó là Amy Dunne – Amy Kỳ Diệu, còn ở Bạch Dạ Hành thì là Karasawa Yukiho.

Hình ảnh phim Bạch Dạ Hành với 2 nhân vật chính Yukiho & Ryo

Cả 2 cô gái đều xinh đẹp, và lớn lên trong những hoàn cảnh đặc biệt khác người.

Amy thì được mệnh danh là Amy Kỳ Diệu – Amazing Amy từ khi còn rất nhỏ, dựa trên hình ảnh do cha mẹ cô xây dựng nên trong loạt sách cùng tên. Một kiểu thiên tài và anh hùng trẻ con, quý tộc, cao sang từ khi còn bé tí.

Tạo hình của Amy Dunne qua vai diễn của Rosamund Pike

Karasawa Yukiho thì hoàn toàn ngược lại. Xuất thân nghèo đói. Mẹ thì nát rượu, không kiếm ra tiền. Và bà ta nhẫn tâm ‘bán’ con gái mình cho 1 gã chủ tiệm cầm đồ. Yukiho bị lạm dụng từ khi học lớp 5.

Nền tảng gia đình là yếu tố rất quan trọng tác động đến sự hình thành nhân cách cho đứa trẻ. Và với những đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biết thế kia, thì ta có thể hình dung ra nó sẽ có tính cách đặc biệt thế nào, một khi lớn lên.

Điểm giống nhau thứ 2 ở cả 2 nhân vật này khi họ bắt đầu trưởng thành cho đến lớn: cùng tạo ra 1 vỏ bọc hoàn hảo cho thân phận, hình ảnh của mình.

Và mọi chuyện bắt đầu từ đó.

Nhưng dĩ nhiên, người phụ nữ sẽ khó mà hành động nếu chỉ có một mình. Họ cần một người ‘đồng hành’, và chắc chắn đó phải là 1 người đàn ông.

Trong Bạch Dạ Hành thì đó là Ryo. Còn Gone Girl thì đó là Nick Dunne.

Nick Dunne qua hoá thân của Ben Affleck.

Tuy nhiên vai trò của 2 nhân vật này vừa giống lại vừa khác nhau. Ryo thì suốt đời 1 mực yêu thương che chở cho Yukiho, sẵn sàng vì cô ta mà sống trong bóng tối, làm tất cả mọi tội ác 1 cách mù quáng. Còn Nick Dunne thì là 1 anh bạn trai rồi thành chồng, đẹp mã, có tài, nhưng hơi ‘ngây ngô’, vô tâm và có những bí mật riêng tư, trong mối quan hệ với Amy thì vừa tìm cách đối chọi lại với cô vợ của mình, vừa tìm cách ‘hoà thuận’ để duy trì cuộc sống hôn nhân.

Quay trở lại với 2 nhân vật chính, để có thể duy trì được vỏ bọc và từng bước thực hiện mục tiêu của mình. Họ phải lên những kế hoạch thật hoàn hảo, giải quyết những vật cản đường (là những người vô tình hay bất ngờ khám phá ra một sự thật nào đó có hại cho họ) và rất thông minh, có tài xoay sở để giải quyết những tình huống phát sinh sao cho có lợi nhất về phía mình, không chỉ ở hiện tại mà cho cả tương lai lâu dài sau đó.

Ở cả 2 câu chuyện thì đều có mấu chốt của 1 vấn đề. Bạch Dạ Hành & Yukiho thì là cái quá khứ ghê gớm (cố sát mẹ ruột và tiếp tay cho Ryo giết cha cậu ta) cần phải che dấu suốt đời. Còn Amy thì là mối hôn nhân ngày càng rệu rã với anh chồng ngoại tình và chỉ biết tiêu xài tiền của vợ.

Nếu Yukiho là chủ mưu gây ra hết tội ác này đến tội ác kia, dối trá, lừa lọc, giăng bẫy, hãm hại vì mục đích che dấu quá khứ và tìm mọi cách bước lên đỉnh của vinh quang, tiền tài. Thì Amy lại chủ động lập kế hoạch, đưa ông chồng chán chường của mình vào bẫy, muốn người chồng phải nếm trải cảm giác bị cả nước Mỹ ghét bỏ, và hơn thế, là nguy cơ nhận lãnh 1 kết cục bi thảm nhất: án tử hình vì tội giết vợ.

Yukiho đi từ thấp lên đến cao: con nhà nghèo, bị khinh ghét trở thành người phụ nữ đầy tiền tài, nhan sắc, danh tiếng. Amy đi từ cao đến tận đáy: dân Ivy League, con nhà quyền quý cao sang, phải từ bỏ New York về vùng nông thôn sống ru rú buồn tẻ.

Nhưng đâu là động lực sâu sa nhất, đẩy cả 2 con người này đến những hành động tận cùng như vậy? Câu trả lời chỉ có là: họ không có tình yêu thương. Với bất kỳ ai. Sự căm ghét và bất mãn qua năm tháng được chôn vùi, nung đỏ như sắt thép và đến lúc cần ra tay thì cực điểm của lạnh lùng.

Họ đều có trí óc, duyên dáng và đài các bên ngoài, nhưng bên trong thì sẵn sàng làm mọi thứ để nổi loạn và thâu tóm tất cả.

Họ bị ám ảnh, bởi sự ghen tuông, hận thù, tình yêu, quyền lực, ham muốn, danh vọng đến mức điên loạn.

Và kết cục của cả 2 nhân vật? Rất tiếc là không có cái ‘ác giả ác báo’ công bằng như những truyện Việt Nam. Cả 2 đều thoát thân ở đoạn cuối cùng. Nhờ vào đâu?

Yukiho thì đó là nhớ Ryo, người sẵn sàng lấy cái chết của chính mình để bảo vệ cho nàng. Còn Amy thì dùng hình nhân thế mạng là gã bồ cũ từng mê muội bám theo mình. Vâng, vẫn là những người đàn ông. Bởi thế mới nói, phụ nữ dù là thời nào, nếu biết dùng cả nhan sắc lẫn đầu óc kèm theo 1 trái tim lạnh lẽo nữa thì đàn ông chắc chắn chỉ có chết vì ả mà thôi.

Tạm chia tay 2 nhân vật chính, ta sẽ nói đến điểm giống nhau quan trọng tiếp theo của 2 tác phẩm này.

Đó là đạo diễn David Fincher & tác giả Higashino Keigo.

Đạo diễn David Fincher

David Fincher là 1 đạo diễn nối tiếng với những tác phẩm … chuyển thể từ tiểu thuyết hay sách. Điển hình là Se7ven, Fight Club, The Social Network hay The Curios Case of Benjamin Button đều là chuyển thể hết.

Higashino Keigo thì lại là 1 tác gia chuyên về trinh thám và rất nhiều các tác phẩm của ông được chuyển thể thành phim truyện, phim truyền hình. Thậm chí ông còn viết kịch bản phim luôn.

Cả David Fincher và Higashino Keigo đều là người rất chú ý đến những chi tiết nhỏ. Chi tiết nhỏ làm nên câu chuyện lớn. Xem Gone Girl sẽ thấy cách David Fincher xử lý từng chi tiết nhỏ nhặt kỹ càng đến mức nào. Cách tạo hình nhân vật chính, phụ, các câu chuyện lồng ghép vào, những lời thoại đầy tính châm biếm và motip hài hước chua cay. Và nhất là cách ông chỉ đạo diễn xuất lẫn cú máy để chuyển trạng thái và nhịp phim rất nhanh. Từ 1 cảnh ban đầu thấy rất bình thường nhưng quay qua 1 chút là thấy có không khí căng thẳng và rùng rợn.

Higashino Keigo thì với Bạch Dạ Hành, ông xây dựng 1 đường dây các nhân vật phụ rất nhiều, nhưng tất cả đều nối kết với nhau như 1 cái sơ đồ xoay quanh 2 nhân vật chính. Và cũng chính nhờ những nhân vật phụ, và rất nhiều các chi tiết nhỏ xây dựng 1 cách logic liên kết nhau, mà khiến người đọc hình thành nên rất nhiều những liên tưởng nằm bên ngoài cuốn sách, không phải do tác giả tự ý nêu ra.

Nhưng có 1 điểm mà David Fincher làm được ở Gone Girl mà tôi đánh giá cao hơn những tác phẩm khác của ông. Đó là việc ông tạo ra một mạch phim và biên kịch đưa vào rất nhiều yếu tố hài hước châm biếm. Rõ ràng là mình đang xem một phim thể loại tâm lý, hình sự, nhưng mà khán giả phải liên tục bật cười vì những lời thoại và cách tình huống lồng ghép vào.

Ở phim này, nếu có 1 điểm chưa hoàn hảo, thì đó là cách xây dựng nhân vật người chồng của Amy. Rõ ràng từ đầu cho thấy anh chồng là 1 kẻ hết thời, khá bê tha, lại ngoại tình với 1 em ngực to não phẳng, rồi chẳng lo làm ăn, chẳng hiểu biết gì đến tâm lý vợ mình. Và anh ta bị cuốn vào cái bẫy mà cô ả đã chuẩn bị sẵn chu đáo. Nhưng đến nửa cuối phim thì anh chồng tự nhiên ‘thông minh’ đột xuất, tự mình tìm ra lời giải cho những vấn đề.

Thật ra tôi nghĩ chính David Fincher cũng nhận thấy điểm này ở bộ phim nên phải có 2 nhân vật phụ là tay luật sư và cô em gái, là 2 người đồng hành cùng anh chồng trong việc tìm ra Amy, lật tẩy mọi quân bài và âm mưu của cô ả. Nhưng có vẻ như 2 nhân vật phụ này chưa được thành công cho lắm với vai trò trợ giúp.

Ngoài điểm đó ra thì Gone Girl xứng đáng là một trong những phim hay nhất năm nay, và David Fincher cùng biên kịch cho phim này xứng đáng 1 đề cử Oscars xuất sắc nhất. À quên, giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho Rosamund Pike cũng hợp lý nhưng e là còn quá sớm để cô nàng được nhận :).

H E R – Khúc ca lặng lẽ cho những kẻ cô đơn và khao khát được yêu thương lần nữa.

Khi bắt đầu định xem ‘Her’, tôi đã hỏi ý kiến thử 1 người bạn, và lời nhận định là: ‘film nặng nề lắm, xem được 1 chút là dẹp luôn.’ Vì thế nên tôi cũng hơi ngại và lười. Nhưng mấy ngày trước, nhân 1 lúc tâm trạng đang nặng nề, tôi nghĩ hay thôi xem đại đi, dù gì thì mình cũng nặng nề sẵn rồi…

Và đúng là cái gì cứ đinh ninh như thế, thì nó lại khiến ta bất ngờ, theo chiều ngược lại…

Her 2013

Cho dù câu chuyện được diễn ra ở 1 thế giới tương lai, khi mà con người hoàn toàn dùng giọng nói để ra lệnh cho máy tính làm mọi việc, và các hệ điều hành sẽ được tuỳ biến để phù hợp với từng cá nhân sở hữu, nhưng bộ film lại khiến tôi cảm thấy vô cùng thân thuộc, gần gũi, nhẹ nhàng. Cảm giác giống như đang ngồi đọc một bức thư cũ mòn được viết tay đẹp đẽ, nghe một bản nhạc dịu dàng trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng, và ngắm nhìn thành phố lung linh ngoài ban công…

Nếu so sánh, Her mang một motip về những con người cô đơn, trong thế giới đương đại đang chuyển động chóng mặt xung quanh, còn thế giới của họ lẻ loi, đơn độc, lặng lẽ, phần nào giống với ‘Lost In Translation’ hay ‘Lars and The Real Girl’.

Khi công nghệ ngày càng hiện đại, con người sẽ ngày càng trở nên cô độc hơn. Điều đó đã được dự báo và minh chứng rất rõ. Thế giới công nghệ đang làm thay đổi các kết nối, thay đổi cách con người tương tác với nhau, mở ra những điều mới lạ, thú vị hơn mỗi ngày. Nhưng đồng thời khiến cho những gì ẩn sâu bên trong lại càng trở nên khó được chia sẻ và đồng cảm thật sự. Mọi thứ chuyển động nhanh chóng hơn, nhưng lại khó sâu sắc hơn, dễ tiếp cận hơn, nhưng đồng thời cũng chóng phai nhạt đi…

Khi những mối quan hệ thực tế ngày càng trở nên khó khăn với nhiều những trách nhiệm, mâu thuẫn, chịu đựng thì con người ta càng tìm cách chui vào lớp vỏ bọc của riêng mình, và lệ thuộc nhiều vào những công nghệ. Nhất là khi công nghệ không chỉ giúp bạn giải quyết được công việc hàng ngày, mà còn biến ra cho bạn 1 người luôn sẵn sàng nghe bạn nói, phản ứng dễ chịu thoải mái với những gì bạn đưa ra, đưa ra những ý tưởng, lời khuyên mới mẻ, thú vị, và biết cách xoa dịu, giải toả khi bạn gặp căng thẳng.

Theodore – nhân vật chính trong film – đang ở trong những chuỗi ngày cô độc nhất của cuộc đời. Đang tiến hành ly dị vợ, và cũng là người bạn tri âm tri kỷ duy nhất của anh suốt chục năm qua. Hàng ngày Theodore đối diện với một công việc cũng khá cô đơn, viết nên những lá thư thay cho người khác. Những lá thư anh viết luôn nhẹ nhàng, tình cảm, chân thành, nhưng tiếc thay chúng chẳng phải là của anh…

Và một ngày nọ, khi vô tình thử cài đặt 1 hệ điều hành mới cho máy tính, anh đã tìm ra … Samantha. Samantha chính là người ‘bạn’ mà tôi đã nói ở trên với đầy đủ các đức tính tuyệt vời, vừa là tri kỷ, nhưng cũng có thể làm người yêu, chỉ có điều cô ấy không có 1 cơ thể thật sự. Cô ấy là 1 hệ điều hành.

Thế là nỗi cô độc của Theodore bấy lâu nay nay đã được lấp đầy bởi 1 người bạn ‘ảo’. Từ việc giao tiếp giữa người và máy thông thường, Theodore ngày càng chia sẻ nhiều hơn tất cả mọi thứ, mọi khoảnh khắc, suy nghĩ, cảm xúc, và dĩ nhiên Samantha đã được lập trình để phản ứng ngược lại 1 cách hoàn hảo. Điều gì đến đã đến. Họ ;yêu’ nhau. Nhưng dĩ nhiên đời không như là mơ, chẳng có 1 sự lập trình nào cho cuộc đời 1 cách hoàn hảo được. Kết cục thế nào, bạn sẽ phải tự xem sẽ rõ.

Đối với tôi, bộ film này có nhiều thứ tôi mà ưng ý:

–       Âm nhạc: toàn bộ nhạc nền cho film được biên soạn bởi Arcade Fire, đa số là âm nhạc điện tử nhưng được kết hợp rất hoàn hảo với các nhạc cụ như piano, guitar làm nên 1 bản hoà âm xuyên suốt đầy đẹp đẽ. Score của film này, thậm chí mấy ngày hôm nay mệt mỏi, tôi cứ lấy ra nghe đi nghe lại. Thật sự rất hay. Nhưng bản nhạc hay nhất trong album nhạc film này là ca khúc chính, bài ‘The Moon Song’ do Karen O của nhóm Yeah Yeah Yeahs sáng tác và đang được đề cử ca khúc nhạc film hay nhất tại Oscar năm nay. Bài hát này, theo lời Karen là được cô viết trong lúc đọc kịch bản của film, và quả thật là nó gần như là hoàn hảo.

–       Diễn xuất của Joaquin Phoenix cùng với những phần biên kịch, đối thoại với giọng nói của Scarlet Johansson quá tuyệt. Đây chính là cái khiến tôi cảm thấy gần gũi và thật nhất. Rất gần với những suy nghĩ và cảm xúc lẫn phản ứng của mình. Giống như ngày trước khi tôi đọc cuốn ‘Cưỡng Cơn Gió Bấc’ và phải thốt lên, ‘chà sao mà đối thoại thật và đúng như mình nghĩ vậy nhỉ?!’

–       Điều cuối cùng là, Her là một bộ film mô phỏng thì tương lai, nhưng lại khiến tôi nhớ về những ký ức của ngày xưa, nhớ về những giai đoạn mình cũng vô cùng cô đơn, và có 1 một người bạn ở 1 nơi thật xa xôi cách nửa vòng trái đất. Ngày nhớ, đêm mong. Tranh thủ sáng trưa chiều tối chuyện trò qua mạng, chia sẻ với nhau những khoảnh khắc, suy nghĩ, cảm xúc hồi hộp, nhớ nhung, mong chờ, lo lắng và nghĩ thế là mình đã yêu. Cho đến một ngày, một trong hai người ngừng liên lạc, và biến mất như chưa từng tồn tại trên đời…

Năm ngoái tôi đã chọn ‘Detachment’ là Movie of The Year. Thì năm nay, ‘Her’ là một film mà tôi yêu thích nhất (sau đó là ‘The Wolf of Wall Street’, ‘The Great Beauty’, ‘Captain Phillips’, ‘Stoker’… phải xem ‘Gravity’ & ‘Rush’ nữa cho đủ bộ).

The Spectacular NOW.

Khi còn trẻ, đa số ta chỉ nghĩ một điều duy nhất là, ‘sống hết mình vì ngày hôm nay’. Cái gì cũng có 2 mặt trái – phải. Mặt tích cực là tuổi thanh xuân chỉ đến có 1 lần, hãy làm tất cả những gì để mình không hối tiếc. Quá khứ thì đã qua rồi. Tương lai thì chưa biết. Chỉ có hiện tại chính là món quà. Tuy nhiên phần nhiều những ‘món quà’ đều không phải là những gì ‘miễn phí’. Sau khi hiện tại qua đi, thì ở tương lai, những ‘hoá đơn’ sẽ đến từ từ.

Và cái ‘hoá đơn’ đó ra sao, sẽ tuỳ ở hiện tại ta sống thế nào.

The Spectacular Now’ là 1 film đến từ bộ đôi biên kịch làm nên (500) Days of Summer, dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên của Tim Tharp. Sutter Keely là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu ‘hot boy’ trường trung học cấp 3, có bạn gái xinh đẹp, cả 2 luôn là tâm điểm của mọi cuộc ăn chơi và là 1 người theo chủ nghĩa hưởng lạc. Đi kèm với việc bận rộn tiệc tùng liên miên là điểm số học hành của anh chàng luôn thấp lè tè và chẳng có 1 kế hoạch nào cho tương lai phía trước. Cho đến 1 ngày cô bạn gái hot girl cũng không thể nào ‘theo’ nổi chàng hot boy mà chia tay anh để đến với 1 ‘hot boy’ khác trí thức hơn: thủ lĩnh của Hội học sinh và 1 vận động viên hàng đầu của trường. Trong cơn thất vọng, Sutter lao vào uống điên cuồng và tán tỉnh các gái khác để quên đi. Và rồi sáng hôm sau cậu thức dậy ở ven đường. Đó cũng là thời điểm cậu gặp Aimee. Aimee là 1 cô ‘mọt sách’ chăm chỉ hàng ngày dậy sớm đi giao báo phụ mẹ, say mê đọc truyện tranh Nhật và tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, mơ ước sau tốt nghiệp sẽ làm việc cho NASA, và là 1 cô gái hoàn toàn ‘vô danh’ chưa bao giờ các chàng để mắt tới trong trường.

Kể đến đây thì đa phần mọi người sẽ dễ dàng đoán ra được motip của bộ film này phải không? Bad boy gặp good girl và bị tình yêu làm cho thay đổi. Nhưng ‘The Spectacular Now’ không hề là 1 film sến súa và tầm thường như thế.

The Spectacular Now’ là 1 bộ film bình thường, kể một câu chuyện tưởng chừng như đã là sáo rỗng bấy lâu nay, nhưng chính cách kể chuyện, xây dựng nhân vật và diễn xuất rất thật của các diễn viên và cách làm của 1 bộ film độc lập đã khiến cho câu chuyện đáng xem từ đầu đến cuối. Và nhất là khi xem xong, ta vẫn cảm thấy nó chạm được vào đâu đó ở trong bản thân mình.

Chắc sẽ có ai đó thắc mắc tự hỏi, tại sao những cô gái ngoan hiền con nhà lành lại thích những kiểu con trai hư quậy phá? Thật ra cái này rất đúng, nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu niên đang trưởng thành. Bởi vì ở tuổi đó, người trẻ sẽ vô cùng tò mò, háo hức được khám phá những cái mới mẻ vốn dĩ trước đây không nằm trong nhận thức của mình. Một chàng trai hư quậy phá thì sẽ biết cách để khuyến khích và khơi dậy sự tự tin ở một cô gái ngoan hiền và ủng hộ cô ta dám làm những điều ‘trái với quy luật’ mà trước giờ cô ta e ngại. Chàng ta sẽ giúp cô ấy khám phá một mảng khác trong đời sống, vui nhộn hơn, thoải mái hơn và nhiều hấp dẫn thú vị hơn. Và ngược lại, cô gái kia với thói quen ‘sống chậm’, nghĩ sâu sẽ khiến chàng phải lâu lâu nhìn lại chính bản thân mình, khiến chàng suy nghĩ kỹ và sâu hơn về những gì mình đang trải nghiệm. Và hơn hết, khiến chàng nhận ra đâu là sống thật, còn đâu chỉ là những niềm vui ảo ảnh phù du sẽ chóng tan sau khi cơn say kết thúc.

Câu chuyện của ‘The Spectacular Now‘ xoay quanh chủ yếu ở 2 nhân vật, nhưng những câu chuyện nhỏ được xây dựng đan xen trong đó khiến cho ta thấy câu chuyện hấp dẫn và nhiều góc nhìn. Gia đình, bạn bè, tình yêu, học đường, vui chơi… đó là thế giới mà bất kỳ một học sinh cấp 3 nào đều trải qua. Tôi thích xem những bộ film về tuổi học trò, vì ở đó tôi được nhìn lại một thời tuổi trẻ nhiều bồng bột, nông nổi nhưng cũng thật chân thành, lãng mạn và đáng yêu của chính mình.

The Spectacular Now’ với tôi chỉ có 1 điểm trừ nho nhỏ, đó là film thiếu vắng đi sự điểm tô của âm nhạc, vốn là cái không thể thiếu ở những bộ film tình cảm drama kiểu này. Tuy nhiên sự thiếu vắng đó cũng không phải là quá to tát, vì những đoạn hội thoại, độc thoại giản dị nhưng tự nhiên, chân thành luôn hiện diện để lấp đầy khoảng trống trong film.

The Spectacular Now’, một film độc lập đẹp đẽ đáng xem của năm 2013.

Trò chuyện cùng Vương Gia Vệ (p.3)

(Tiếp theo)

Schwartz: Chủ đề ‘phong cách’ luôn được mang ra làm đề tài trao đổi xoay quanh những film của ông. Khi xem những đoạn clips này thì có một cái tác động thẳng vào tôi đó là có một đường dây cảm xúc chạy trong mình, sự căng thẳng về mặt cảm xúc. Và điều đó thậm chí còn quan trọng hơn yếu tố thị giác. Ông khá nổi tiếng về những thứ như là một kiểu ‘slow motion’ nhất định mà ông hay sử dụng, hay một kiểu góc máy, cú máy. Và ông cũng đã nói về việc những thứ đó trở thành những lý do thực tế thế nào trên trường quay. Vậy thì ông có thể chia sẻ chi tiết hơn về điều đó được không?

Vương: Vâng, tôi đoán là có nhiều người nghĩ, ‘Chà cái phim này đẹp. Hình ảnh của ông đẹp. Chắc hẳn ông phải trau chuốt cho nó nhiều lắm nhỉ.’ Nhưng sự thật không như thế đâu. Tôi phải nói là, sau Days of Being Wild, vì film này đã không đạt doanh thu tốt tại phòng vé, nên rất khó để tìm nhà sản xuất cho những bộ film sau. Vì thế chúng tôi đã tự lập công ty và tự sản xuất film.

Và hầu hết các dự án sau đó là chúng tôi đều làm film với kinh phí rất là chặt chẽ, eo hẹp.  Như Chungking Express chẳng hạn, chúng tôi đã làm film này như là 1 film sinh viên. Chúng tôi không có thời gian và kinh phí cho chuyện dựng những bối cảnh lớn. Chúng tôi chỉ quay liên tù tì – thời điểm đó, chúng tôi tự gọi mình là CNN. Chúng tôi làm film này như CNN làm phim tài liệu, mang theo máy quay vác vai và quay – không giấy tờ, giấy phép gì hết. Và thậm chí tụi tôi còn bị bắt, vì quay film trong ga tàu điện ngầm không xin phép. Chúng tôi cũng bị bên hàng không cảnh cáo vì mang đến sân bay quay không xin phép. Vậy đó, mỗi khi làm việc đều giống như là lên kế hoạch hôm nay đi cướp ở đâu vậy (cười).

Và phần nhiều những cái gọi là phong cách đó đến từ những hạn chế ở trên. Rất nhiều cú máy cầm tay, và quay với hiệu ứng step printing. Step printing cũng không quá khó hiểu lắm đâu. Khi bạn quay với nguồn sáng sẵn có và không có thêm ánh sáng bổ trợ và lại phải quay với tốc độ nhanh thì bạn phải giảm tốc độ ghi hình. Thông thường là 24 frames/giây thì chúng tôi phải giảm xuống còn 12 frames. Điều đó cho phép độ ‘phơi’ sáng dài hơn, lấy nhiều ánh sáng hơn để có thể giải quyết vấn đề ánh sáng. Nhưng rồi sau này, chúng tôi sử dụng nó một cách có chủ đích, và nó trở thành phong cách của chúng tôi.

Schwartz: Ông có thể nói cách làm việc của ông thế nào được không? Lý An có nói một chút, về chuyện làm việc với Vương Gia Vệ sẽ ra sao. Christopher Doyle, nhà quay film điên khùng và tài năng của ông, từng có lần nói cách làm việc của ông như là – Chris so sánh nó với hình ảnh bàn chân của một người đàn ông béo bụng, nó sẽ dẫn ông đến chỗ mà ông muốn đến, nhưng ông sẽ không nhìn thấy nó cho đến tận cuối ngày. Vậy, tôi không biết nó có phải là một kiểu ẩn dụ thú vị hay không nhưng ông có thể chia sẻ được không? Về những thứ có ý nghĩa với ông theo cách ông kết hợp chúng lại với nhau ấy?

Vương: Tôi nghĩ là An (Lý An) và tôi đến từ những môi trường học vấn rất khác nhau. Cách ông ấy làm film rất khác với cách của tôi. Tôi phỏng đoán rằng, trong những năm gần đây, An đã có được một nhà sản xuất rất giỏi để hợp tác cùng. Về cơ bản, việc đó cho phép ông ấy tập trung hoàn toàn vào việc đạo diễn và biên kịch. Vì thế ông ta làm việc với một đội ngũ nhất định và tạo sự ổn định cho công việc của mình.

Về phần chúng tôi – vì chúng tôi tự sản xuất film – nên mỗi ngày đối với chúng tôi cũng đều là một cuộc chiến. Nó chẳng hề có gì lãng mạn cả đâu – chúng tôi chả bao giờ có cơ may để nói những cái kiểu như ‘À hôm nay tui không có tâm trạng nên thôi dừng lại nhé.’ Điều đó là không thể vì hàng ngày mọi thứ chúng tôi làm đều dính đến tiền bạc và số đó rất là eo hẹp.

Cái chính là, chúng tôi cố gắng làm nhiều nhất có thể. Và chúng tôi chạy đua tới tận phút cuối cùng. Tôi vẫn còn nhớ khi quay ‘Happy Together’ (1997) ở Argentina, có một ngày nọ chúng tôi quay ở một nơi tên là Ushuaina, là vùng cuối phía Nam của Nam Mỹ – sau vùng đó là Nam Cực rồi.

Nơi đó vô cùng cách xa thủ đô Buenos Aires. Chúng tôi cứ quay và quay cho đến khi nhận ra, ‘Chúng ta còn đủ film dự trữ không, Chris?’ ‘Không, chúng ta hết film dự trữ rồi.’ ‘Nhưng mà còn 1 cảnh nữa đó. Phải làm sao đây?’ Rồi chúng tôi ngồi xuống và Chris có 1 ý tưởng. Đi đến từng cửa hiệu ảnh để mua film cuộn.

Schwartz: Mua từng cuộn?

Vương: Nó là film cuộn – film có 36 kiểu hoặc 24 kiểu. Vì thế chúng tôi cuộn film vào và quay cả cảnh này bằng những hình ảnh tĩnh. Mỗi cảnh đúng 1 giây. Và chúng tôi vui lắm. Vì tôi nghĩ thời điểm đó, đối với chúng tôi đây như là một thành quả vậy. Đôi khi mọi người hay nghĩ là ‘phong cách của ông hay quá.’ Nhưng tôi thì luôn muốn được giải thích – đặc biệt là với các bạn sinh viên – rằng là ‘Nó không chỉ đơn thuần là một quyết định mang tính thẩm mỹ đâu. Mà đôi khi nó là quyết định thực tế để giải quyết vấn đề.’ Một trong những công việc của người làm phim là phải giải quyết vấn đề.

(lược bỏ 1 đoạn ngắn không quan trọng)

Vương: Vâng, ‘My Blueberry Nights’ có thể được xem như là một câu chuyện tình, nhưng đối với tôi, tôi sẽ nói rằng đây là một film về việc ‘để mọi thứ qua đi’. Tôi nghĩ với chính mình, và rất nhiều người khác, việc để một thứ gì đó ra đi, thật sự qua đi là rất khó khăn. Nhất là khi nó có quá nhiều ý nghĩa đối với bạn. Và ở một thời điểm nhất định, bạn buộc phải để nó ra đi.

Đó thật sự là một quyết định khó khăn, hệt như việc làm film vậy.

Làm thế nào bạn biết rằng đây là lựa chọn tốt nhất? Bạn có thể làm tốt hơn khong? Chúng tôi luôn tự hỏi mình như vậy. ‘Chúng ta có thể làm tốt hơn không?’

Vì vậy tôi luôn cố gắng làm tốt nhất có thể. Một trong những lý do mà chúng tôi hay giới thiệu film ở Cannes là vì đó chính là thời hạn chót của chúng tôi. Chúng tôi buộc phải hoàn thành bộ film vào một thời điểm nhất định (và để bộ film ‘ra đi’ đến với khán giả – lời người dịch).

Schwartz: Vâng. Ông có hay nghĩ về những bộ film của ông, như kiểu một bộ film mở, sẽ tiếp diễn, chuyển biến không? Như kiểu ông làm lại chính bộ film đó, tôi biết ông đang làm lại ‘Ashes of Time’ (1994).

Vương: Tôi nghĩ, ít hay nhiều, mỗi đạo diễn sẽ có những thứ nhất định khiến họ rất bận tâm, những thứ có nhiều ý nghĩa đối với họ. Theo một cách nào đó, tôi không nhìn những bộ film dưới góc nhìn riêng lẻ. Tôi nghĩ nó giống như là những chương khác nhau của một quyển sách dài.

Giống như là khi tôi xem film của Lý An, cho dù là film thuộc nhiều thể loại khác nhau: có kiểu Jane Austen, hay là kiếm khách Trung hoa thế kỷ 18, hay là 2 chàng cao bồi thì tôi cũng đều thấy giữa chúng có sự liên hệ với nhau. Tôi có thể cảm thấy đây là film của An. Tôi biết ông ấy và tôi có thể nhận ra hình ảnh của ông ấy ở trong film.

Schwartz: Có thể thấy một thứ mà xuyên suốt các phim của ông đều hiện lên đó là ý niệm về sự trôi đi tự nhiên của dòng chảy thời gian. Và dường như nó được gắn bó chặt chẽ với quá trình làm phim – luôn luôn là tâm thế của một người chỉ có thể sống ở hiện tại nhưng chưa bao giờ thật sự nắm bắt được hiện tại đó.

Vương: Không. Không. Thật là tôi không… Tôi nghĩ điều mà tôi cố gắng để nói về thời gian là … tôi cho rằng đây là một lối suy nghĩ rất phương Đông… Có một bài thơ Trung Quốc nói về hoa đào mỗi mùa lại nở nhưng khuôn mặt hôm nay thì đã khác hôm qua. Nó giống như là những thứ xảy ra vào một thời điểm đúng, hay là một thời điểm sai, nhưng vẫn đúng nhân vật đó. Tôi nghĩ đây là bối cảnh toàn cầu cho những sự kịch tính. Đúng không? Nó cũng có thể là bối cảnh cho bi kịch hay hài kịch, tuỳ vào cách anh đặt nó.

Schwartz: Vậy là từ đó cuộc sống có thể rẽ theo nhiều hướng rất khác nhau, nhưng nơi chốn mà anh xuất hiện, vào thời điểm đó, sẽ quyết định ai là người đồng hành cùng anh?

Vương: Vâng. Đúng thế.

Schwartz: Được rồi. Mừng là tôi đã hiểu được điều đó. Ông có thể nói về chuyện làm việc với các nhạc sĩ không? Diễn xuất của Norah Jones trong film này rất tuyệt. Nhưng trước đó ông đã làm việc với rất nhiều các nhạc sĩ rồi, như là Trương Học Hữu, người đóng vai ‘Ruồi’ trong As Tears Go By, rồi Vương Phi, hay Lê Minh (đóng vai sát thủ trong ‘Fallen Angels’). Ông có thể chia sẻ được không? Có gì đó khác biệt khi hợp tác với các ca sĩ không?

Vương: Điều tác động rõ ràng nhất với tôi là tôi nhận ra ở Mỹ mọi người có ý niệm rất rõ ràng về việc ‘À, đây là ca sĩ còn kia là cô diễn viên.’

Nhưng ở Hongkong, trong thế giới của chúng tôi – hoặc có thể là thế giới của riêng tôi – là tôi được là việc với những diễn viên tài năng này, và vô tình họ có điểm chung là xuất thân từ âm nhạc. Như Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung) là ca sĩ nổi tiếng, Lương Triều Vỹ cũng có hát và Vương Phi cũng là ca sĩ.

Tôi không xem họ như là những ca sĩ; tôi chỉ thấy họ là những cá nhân đặc biệt. Họ vô cùng tài năng, họ có ngoại hình thu hút và họ có cách riêng để thể hiện bản thân mình. Và vì là nhạc sĩ, ca sĩ nên họ có trực cảm vô cùng tốt với nhịp điệu, giai điệu. Tôi nghĩ đối với một diễn viên, nhịp điệu là cái rất quan trọng. Vì film chính là nhịp điệu (điểm này Vương Gia Vệ cùng quan điểm với đạo diễn Trần Anh Hùng – lời người dịch).

Schwartz: Những bộ film của ông có nhịp điệu rất riêng. Cho dù những đoan độc thoại có thể khá phức tạp. Có một điều tôi thích ở những đoạn độc thoại của ông là nó có thể không cần phải giải thích hoặc liên quan gì đến nhau cả. Trong Chungking Express, có một bà xã hội đen bi đát xuất hiện ở đầu phim, và rồi cảnh tiếp theo là câu chuyện của một cảnh sát. Thông thường khi chúng ta thấy những câu chuyện khác nhau trong cùng một phim thì thể nào nó cũng có liên kết liên quan đến nhau, nhưng ông thì không làm theo cách đó.

Vương: Tôi có logic của mình. (Cười). Như với Chungking Express, ý tưởng của tôi là ngày và đêm. Cấu trúc rất đặc trưng, và rồi tôi chỉ để cho đêm và ngày xoắn lại cùng nhau như thế thôi.

Days of Being Wild thì bắt đầu với 3 tuyến câu chuyện khác nhau. Nhưng đến cuối cùng cả 3 sẽ gặp nhau. Tôi chỉ muốn cho thấy rằng trong phạm vi một giai đoạn thời gian, bạn sẽ thấy những biến đổi qua những gì bất biến, hoặc là ngược lại.

(còn tiếp)

Trò chuyện cùng Vương Gia Vệ (p.2)

Schwartz: Hmm. Vậy làm thế nào mà ông đến được con đường đạo diễn? Bởi vì thị trường Hongkong không phải là nơi được biết đến với dòng film tác giả, đa số film đều là thị trường, film chung chung thôi. Ông đã viết kịch bản trong nhiều năm trước khi đạo diễn film đầu tay ‘As Tears Go By’ (1988).

Vương: Thật sự là tôi đã học thiết kế đồ hoạ tại trường Bách Khoa Hongkong. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao, vì thật sự tôi có năng khiếu vẽ vời gì đâu. Nhưng tôi có thể chụp hình tốt. Vì thế họ nói với tôi ‘Thôi, cậu cứ vào trường chúng tôi học đi.” Và lúc đó là thời điểm bắt đầu của cái gọi là Làn Sóng Mới ở Hongkong, chúng tôi đang bước vào 1 thời kỳ mới, thời kỳ của truyền hình.

Lúc đó, có rất nhiều đạo điễn lớn, như Từ Khắc, Patrick Tam và Ann Hui. Họ học điện ảnh ở Anh hay Mỹ và quay về Hongkong làm việc trong những đài truyền hình. Nó trở thành một công việc rất thời thượng. Giống như là ngành IT 10 năm trước vậy đó. Wow. Tất cả tụi trẻ đều muốn làm việc như thế.

Đôi khi họ có những lớp huấn luyện để huấn luyện biên kịch và đạo diễn. Nó không phải là trường học làm film, vì họ phải trả tiền cho bạn để bạn tham gia mấy lớp đó. Điều duy nhất bạn phải làm là xem film và trở thành sinh viên điện ảnh. Tôi nghĩ, ‘Quá hay còn gì’.

Vì thế tôi bỏ sinh viên thiết kề đồ hoạ ngay và tham gia vào những lớp học ở đài truyền hình. Từ đó tôi được gặp rất nhiều đạo điễn, biên kịch và 1 năm sau, rất nhiều người bỏ. Đó, tôi nghĩ, là khởi đầu của Làn Sóng Mới ở Hongkong cho ngành điện ảnh. Họ cần rất nhiều những biên kịch mới và trợ lý đạo diễn. Và tôi trở thành một biên kịch. Tôi đã làm biên kịch trong vòng 10 năm cơ đấy.

Schwartz: Rồi làm thế nào ông có cơ hội để làm ‘As Tears Go By’?

Vương: Ý tưởng của As Tears Go By đến từ 1 kịch bản mà tôi phát triển cho Patrick Tam. Tôi đã là biên kịch cho Patrick Tam và chúng tôi phát triển 1 dự án nói về 2 tên giang hồ, giang hồ vô danh. Tôi còn nhớ lúc đó là sau khi film ‘A Better Tomorrow’ (1986) của Ngô Vũ Sâm (John Woo) ra mắt. Vào những ngày đó, nguồn tài chính chủ yếu cho những film của Hongkong đến từ các thị trường Châu Á. Và sau thành công của ‘A Better Tomorrow’, mọi người đều muốn cố gắng làm một film như vậy. Hình tượng nhân vật phải là kiểu anh hùng xã hội đen.

Ý tưởng của chúng tôi là, sẽ cố gắng để làm ngược lại, viết 1 câu chuyện về 2 tên giang hồ vô danh tiểu tốt. Phần đầu sẽ là về thời niên thiếu, và đến thời trai tráng thanh xuân và đến thời trung niên. Nhưng nó khó quá. Vì thế Patrick Tam xoay sở để làm phần thứ 2 với tên gọi ‘Final Victory’ (1987). Còn tôi, khi cơ hội đến với mình, thì tôi muốn làm phần thứ 1, và là thế là ‘As Tears Go By’ ra đời.

 Schwartz: Có một điều mà tôi phải hỏi ông, bởi vì ông đang ở New York – nơi mà ảnh hưởng của Scorsese rất quan trọng. Tôi đoán là bất cứ film nào mà có cảnh đánh nhau trong tiệm bida, thì chắc chắn sẽ có 1 sự so sánh với ‘Mean Streets’ (film của Scorsese năm 1973).

 Vương: Vâng. Vâng. Tôi nghĩ điều thật sự khơi cảm hứng cho bộ ba film này được bắt nguồn từ Mean Streets. Theo 1 cách nào đó, khi tôi nhìn vào cái hình ảnh này, nó vẫn rất gần gũi với mình. Bởi vì tôi nhớ đó là ngày đầu tiên hay ngày thứ 2 quay film và cơ bản là…

Schwartz: Cái cảnh đánh nhau trong tiệm bida này đó hả?

Vương: Vâng. Ông biết không, Patrick Tam là một đạo diễn rất là tỉ mỉ. Ông ấy luôn chuẩn bị đầy đủ. Ông ta rất là kỹ càng với những cảnh quay. Vì thế 2 ngày trước khi bấm máy, ông ấy sẽ nói là ‘Tôi cần chuẩn bị cho tất cả các cảnh quay.” Ông ta luôn biết chính xác mình phải làm gì khi ra hiện trường. Vì thế khi bắt đầu tập tành trở thành đạo diễn, tôi đã nghĩ ông ấy là tấm gương cho mình và tôi cũng có thể làm như vậy được.

Nhưng thực tế tôi nhận ra rằng mình không phải thế. Bởi vì cái đêm trước ngày khởi quay, tôi vẫn loay hoay với cái kịch bản, chỉnh chỗ này sửa chỗ kia. Và tôi nghĩ, ‘Được rồi, mình sẽ thức dậy sớm vào buổi sáng và có 2 tiếng trước khi quay, để chuẩn bị danh sách những gì cần thiết.’ Và rồi tôi thức dậy… nửa tiếng trước khi bấm máy (cười). Rồi mọi thứ hoàn toàn rối beng.

Nhưng mà trước đó tôi cũng đã học được vài ‘chiêu’, khi còn làm biên kịch. Bởi vì là một biên kịch thì anh lúc nào cũng phải có mặt sẵn sàng ở trường quay. Và chính anh sẽ là bác sĩ tâm lý cho đạo diễn (cười). Vì thế anh sẽ học được vài chiêu. Kiểu như là ‘Vâng, cảnh quay này sẽ rất là phức tạp nhé. Tôi muốn thấy hết cả pha hành động nên chúng ta sẽ làm một cú máy dài.’ Và trong cảnh quay này (cảnh đánh nhau trong tiệm bida – chú thích của người dịch), chúng tôi phải chạy theo 2 cậu này chạy nhảy trên mấy cái bàn suốt 1 cảnh dài. Vì thế đây là 1 cảnh lớn, phải được chuẩn bị và dàn dựng nhiều. Nó tốn ít nhất là 3 tiếng cho cảnh này. Và trong 3 tiếng đó thì tôi có thời gian để chuẩn bị (cười).

Tôi vẫn còn nhớ, DoP của ‘As Tears Go By’ là Andrew Lau, người mà sau này đã trở thành một đạo diễn rất thành công, với bộ film ‘Internal Affairs’ (2002). Vào thời điểm đó, Andrew còn rất trẻ, và đầy năng nổ. Và cơ bản là chúng tôi đã quay cảnh này rất là mộc mạc. Bởi vì nếu anh dàn dựng dolly để đuổi theo cảnh hành động, thì cuối đường phải có 1 tấm nệm, chứ nếu ko thì máy quay sẽ dễ lao thẳng vào tường lắm.

Nhưng mà trong cảnh này thì chúng tôi không có cái nệm đó. Bởi vì đêm hôm trước tôi đâu có nói để mà tổ quay chuẩn bị (cười). Vì thế, chúng tôi cho 1 vài diễn viên đóng thế đứng ở đó, và máy quay sẽ chạy thật nhanh và lao thẳng vào mấy anh diễn viên đóng thế đó. Rồi cứ thế làm đi làm lại.

Trong những ngày xưa đó, mấy cái vụ này vui lắm. Bởi vì tụi tôi ai cũng rất trẻ, và làm được mấy cái này thì đều cảm thấy như là, ‘Chà, tụi mình đang làm một thứ thật là đã.’ Thời đó, dân làm film thân thiết lắm. Ngày mai, khi một cảnh quay trở thành ‘kinh điển’, ai ai cũng sẽ bàn tán về nó, ‘Trời, tụi nó quay được một cảnh tuyệt vời, mới hôm qua đó.’

Schwartz: Days of Being Wild (1991), bộ film thứ 2 của ông, là một film rất ‘chất’, theo nhiều cách. Không chỉ là về mặt thị giác, mà còn về cách kể chuyện. Nó không phải là một film thành công về mặt thương mại, ít nhất là, ở Hongkong. Nhưng nhờ nó mà ông thu hút được sự chú ý của cả thế giới, ở các liên hoan phim, trong giới phê bình… Ông đã được nhận diện là một đạo diễn cá tính, có ngôn ngữ điện ảnh riêng. Ông có thể chia sẻ những gì ông đã cố gắng làm với bộ film đó không?

Vương: Vào thời điểm đó, tôi đang say mê khám phá những nhà văn như là Manuel Puig và Gabriel Garcia Márquez.

Tôi đã vô cùng ấn tương với cách mà họ kể câu chuyện. Tôi nhận ra rằng, nhất là người Hoa, với kiểu giáo dục của chúng tôi, đa phần chúng tôi chỉ muốn biết ‘cái gì’ hoặc ‘tại sao’. Câu chuyện nói về cái gì? Tại sao lại diễn ra như vậy. Và mọi thứ đều theo 1 ý tưởng chung, 1 cái nền chung, và sẽ làm đúng theo như vậy. Mà hoàn toàn không quan tâm đến việc ‘câu chuyện đó được kể như thế nào?’

Điều mà tôi học được từ văn học Mỹ Latin là họ luôn có một cách để kể câu chuyện của mình: nội dung và cấu trúc liên quan và tương hỗ với nhau. Vì thế tôi muốn làm một film như vậy… Vào lúc mới bắt đầu, Days of Being Wild dự tính có 2 phần. Phần 1 xảy ra vào những năm 1960 và phần 2 xảy ra vào năm 1966. Dự án quy tụ 6 nhân vật, và một vài trong số họ chả hề liên quan gì đến nhau ban đầu. Đó là một cách tiếp cận đầy tham vọng.

Bởi vì ‘As Tears Go By’ cũng có được những thành công nhất định, vì thế nhà sản xuất muốn trao cho tôi cơ hội làm một film kiểu như thế tiếp nữa. Vào thời đó ở Hongkong, đa số film được làm đều là film lồng tiếng. Tôi cho rằng như thế là không đúng. Tôi muốn làm film thu tiếng trực tiếp. Vì bản thân tôi khi xem film, tôi luôn cho rằng âm thanh là một phần không thể tách rời và rất quan trọng của bộ film. Nó phải là âm thanh nguyên bản, không bị lồng đè lên.’ Và đó cũng là một cách làm film mới thời bấy giờ.

Khá nhiều người mong đợi bộ film – film ra mắt vào dịp Giáng Sinh – như kiểu ‘As Tears Go By’. Nhưng trái ngược với sự mong đợi đó, và cũng là bất ngờ với họ, bộ film không giống thế chút nào. Nó nói về những chàng trai trẻ trong những năm 60s, về mối quan hệ của họ với gia đình, và về những ký ức. Tôi vẫn còn nhớ, nó đã tạo được ấn tượng mạnh ở một số thị trường khi ra mắt.

Vài tuần trước, chúng tôi có nói chuyện với 1 số khán giả Hàn Quốc. Tôi có nói là ‘Vâng, tôi nhớ hồi ra mắt Days of Being Wild ở Hàn Quốc, khán giả đã rất tức giận, đến nỗi họ ném ly nước vào màn hình, rồi la hét và bỏ về.’ Nhưng theo cách nào đó, tôi nghĩ bộ film đã gây ấn tượng với rất nhiều người rằng nó là một cái gì đó thật sự khác biệt với những gì đa số mọi người làm ở Hongkong vào thời điểm đó. Và sau cùng, bộ film cũng nhận được những đánh giá và trân trọng đúng mức.’

Schwartz: Tựa đề của bộ film khá là giống với tựa đề tiếng Quảng Đông của film ‘Rebel Without A Cause’ (1955).

Vương: Hum. Đúng rồi.

Schwartz: Bộ film đó (Rebel Without A Cause) có nằm trong tâm trí ông vào thời điểm làm ‘Days Of Being Wild’?

Vương: Nói thật, tôi rất lười đặt tên. Cứ tưởng tượng, như film đầu tiên, tên film là mượn từ một bài hát của The Rolling Stones – ‘As Tears Go By’. Và film này, thật sự thì … Nó rất khó, vì khi trở thành đạo diễn, tôi nhận ra 1 điều là, bạn sẽ luôn bị hỏi một câu kiểu như, ‘Film tiếp theo của ông là gì?’  Tôi nói đại, ‘Days of Being Wild’. Nghe cũng hay, phải không? (cười)

Schwartz: Hay mà.

Vương: Đôi khi chúng tôi có tựa đề trước khi có film, hoặc là… (cười)

Schwartz: Bây giờ, hãy nói về điều này, một điều mà ông đã làm với Days of Being Wild – điều mà tôi nghĩ ông cũng làm khá nhiều lần với những film khác nữa, thậm chí cả ‘My Blueberry Nights’ – đó là ông làm film về một thành phố. Nhưng thay vì tạo ra Hongkong theo một cách đặc biệt nào đó, ông lại làm film theo kiểu phóng sự, như ông nói là kiểu film ‘kỷ niệm’. Vậy là ông tạo ra một thành phố từ những khoảng thời gian thực tế, nhưng đồng thời cũng là một thành phố trong trí tưởng tượng.

Vương: Không. Mỗi film của tôi sẽ có mỗi cách tiếp cận khác nhau. Như trong Chungking Express. Ý tưởng gốc của film này là sẽ có 2 phần. Phần một cho thấy hình ảnh Hongkong ‘ban ngày’ và phần kia thì cho thấy hình ảnh của Hongkong ‘ban đêm’.

Tôi muốn làm film về nơi mình sinh sống, nơi tôi lớn lên, và về những gì gần gũi với mình – bởi vì khu Chiếm Sá Chuỗi rất mật thiết với tôi. Tôi thuộc lòng từng con phố.

Khi chúng tôi có cảnh quay đêm, thì ngày hôm đó tôi thức lúc 12h trưa. Rồi tôi sẽ ngồi trong tiệm café ở khách sạn Holiday Inn để viết kịch bản đến 6h tối. Và tôi đi thẳng đến hiện trường, rồi chúng tôi bắt đầu bấm máy. Vì thế người sản xuất sẽ ngồi cùng tôi và điều khiển mọi thứ, những đạo cụ mà chúng tôi sẽ cần. Bởi vì tôi nói là, ‘Vâng, tôi biết rõ nơi này, và tôi muốn làm một film chỉ dựa theo cái bản đồ này thôi.’

Và rồi, Chris, thời điểm đó, chuyển đến Hongkong. Ông ấy ở khu Central, nơi mà có…

Schwartz: Chris Doyle (DoP nổi tiếng) phải rồi.

Vương: … có tất cả những cái thang máy, vì thế chúng tôi có thể đi lên tầng giữa của Hongkong. Và tôi nghĩ rằng đây là một cái gì đó rất mới, và rồi chúng tôi tạo ra một phần nữa, ‘ban ngày của Hongkong’.

Vậy nên riêng film đó thì đúng là về Hongkong trong tâm trí tôi, điều gắn kết với tôi rất mật thiết. Còn với ‘In The Mood for Love’ (2000) thì lại là về ký ức của tôi về tuổi thơ. Đó là về một Hongkong không còn nữa. Nó nhắc nhở về một thời vàng son đã qua. Đôi khi bộ film không hẳn là về một nhân vật hay khía cạnh nào đó, mà là về cả một giai đoạn, thời đại, ông biết đấy.

Schwartz: Hãy nói về My Blueberry Nights, là film đầu tiên của ông quay ở New York. Vậy thì cách tiếp cận của ông trong việc dựng hình cho New York ra sao?

Vương: Đầu tiên hết là, gia đình vợ của tôi sống ở New York. Vì thế tôi đã đến đây nhiều lần lắm rồi. Và vì thế New York là thành phố thân thuộc nhất của tôi ở Hoa Kỳ. Thêm nữa, nơi này cũng khiến tôi nhớ đến Hongkong, cho dù là nó to lớn hơn Hongkong nhiều, nhưng tôi có thể cảm được cái hình ảnh, mọi thứ đều thẳng đứng. Và nơi đây cũng là miền đất hội tụ của đủ mọi tầng lớp và nơi chốn khác nhau trên toàn cầu cùng chung sống.

Ý tưởng của My Blueberry Nights thật sự đến từ một film ngắn mà tôi làm vài năm trước ở Hongkong. Đó là một câu chuyện xảy đến trong bữa ăn tối giữa 2 người. Và tôi nghĩ, ‘Nó sẽ thú vị nếu mở rộng câu chuyện ra, để lồng câu chuyện vào trong thành phố này. Tôi muốn xem xem ngôn ngữ, ngữ cảnh hay không gian sẽ thay đổi ra sao, biến đổi ra những ý tưởng gì và mang tôi đến đâu.

Và chúng tôi bắt đầu ở New York, quay ở SoHo, trong một tiệm café nhỏ. Nó giống như là, ‘Đây là một tiệm café ở New York, nhưng cùng một lúc, nó có thể là một tiệm café ở bất cứ nơi đâu.’ Rồi chúng tôi có phần thứ 2, thấy Norah Jones cố gắng chạy trốn khỏi New York và bắt đầu hành trình của cô ấy. Chúng ta có thể thấy bối cảnh thay đổi từ dọc sang ngang. Nó cũng phần nào phản chiếu những gì cô ấy cảm nhận thấy ở bên trong vào lúc đó.

(còn tiếp)