20 năm Radiohead và ‘Ok Computer’.

20 năm Radiohead và ‘Ok Computer’.

Ngày 23 tháng 06 năm 2017, ban nhạc Radiohead kỷ niệm 20 năm ngày phát hành album ‘Ok Computer”. Và cũng 20 năm kể từ năm 1997 đó, Radiohead kỷ niệm lần đầu là headliner trên sân khấu của lễ hội Glastonbury.

Thật nhiều những kỷ niệm. Thật nhiều những ký ức đẹp đẽ với âm nhạc.

Tôi đã từng có 1 bài blog, nói về việc tại sao ‘Ok Computer’ lại là 1 album vĩ đại. Một Sgt. Pepper Hearts Club Band của thời đại 1990s-2000s và nhiều năm về sau này nữa.

Bài blog này tôi chỉ muốn ghi lại những xúc cảm của mình, sau 2 ngày cuối tuần tôi dành thời gian xem trọn vẹn buổi diễn của Radiohead tại Glasto vừa rồi.

Radiohead đã không hề khiến những fans hâm mộ của mình thất vọng 1 chút nào, với 1 setlist hoàn hảo chưa từng thấy. 1 setlist điểm qua gần như đầy đủ 9 albums nhạc của nhóm, với mỗi album ít nhất 1 bài. Trong đó có những bản nhạc kinh điển 1 thời gian dài họ đã không chơi live như ‘Creep’ chẳng hạn.

Buổi biểu diễn mở đầu bằng những âm thanh piano đẹp đẽ của ‘Daydreaming’. Ban nhạc tạo nên một bầu không khí vô cùng nhẹ nhàng, hư ảo như mộng mơ dẫn dắt khán giả bước vào chuyến hành trình thanh âm cùng với họ. Và trong chuyến hành trình đó, khi máy quay bắt cận cảnh rất nhiều khuôn mặt khán giả đang hoà cùng lời ca, bất kể đó là bản nhạc nào. Nhìn từng khuôn mặt đó, tôi có thể hình dung ra niềm hạnh phúc mà họ đang trải qua. Giống như tôi đã từng có khi được xem Radiohead diễn live ở Osaka.

Niềm hạnh phúc khi được nghe, xem Radiohead chơi nhạc là 1 sự giải thoát, giải thoát mình khỏi chính bản thân mình, là sự chiêm nghiệm qua những gì mình đã trải và để bản thân mình buông thả tâm hồn theo thứ âm nhạc đó. Trong cái không gian và giây phút cả trăm ngàn con người ở Glasto cùng hát một đoạn điệp khúc cuối cùng kết lại phần trình diễn của ban nhạc: “For a minute there, I lost my self. I lost myself…” Tôi nhìn thấy như chính mình cũng cất tiếng hát và nước mắt chảy ra khi Radiohead kết thúc buổi diễn ở Osaka cũng với bản nhạc “Karma Police”.

Những nguồn cảm hứng để Thom Yorke viết nên album đến từ những suy nghĩ và cảm xúc mà ông có được qua hàng loạt chuyến transit rong ruổi trên hành trình ban nhạc đi tour suốt những năm 95-96. Radiohead hay Thom liệu có đánh mất mình để tìm lại mình hay không? Tôi không biết. Chỉ biết rằng với ‘Ok Computer’ mở ra con đường sau đó đưa họ thành một ban nhạc tuyệt vời, vĩ đại nhất trong thời đại của mình.

20 năm của Ok Computer, từ lúc tôi chỉ mới là 1 đứa học sinh lớp 7, đó là dấu mốc đầu đời tôi biết đến nhạc tiếng Anh: những ca khúc bất hủ trong English Song Books, máy cassette và Walkman. Gần 6 năm sau tôi mới nghe Ok Computer lần đầu tiên và phần đời còn lại của tôi với âm nhạc đã đổi thay mãi mãi.

Tôi đã đánh mất mình, ở đâu đó trong con đường 20 năm ấy. Nhưng để tìm lại mình, có lẽ tôi không dám chắc. Tôi chỉ biết rằng mình chắc chắn sẽ mong chờ để gặp lại Radiohead ở đâu đó, một lần nữa.

Advertisements

Alex Turner, anh là ai?

Why-Alex-Turner-Should-Sing-the-Next-Bond-Theme-Blog-FDRMX

 

Alex David Turner là một nhân vật phức tạp để giải mã. Một thiên tài soạn nhạc và viết ca khúc? Hiển nhiên. Một tay chơi Rock’n’Roll màu mè? Có lẽ. Trong một năm đánh dấu cột mốc của trưởng ban nhạc Arctic Monkeys và trong tuần mà album mới của The Last Shadow Puppets (dự án riêng của Alex và người bạn lâu năm, Miles Kane) được phát hành, cây bút Matt Wilkinson của tuần báo NME đã mang đến cho chúng ta bài viết về một nhân vật cực kỳ khó nắm bắt của thế giới âm nhạc.

Trước khi dịch toàn bài của Matt, xin được nói rằng cá nhân tôi đã có 1 ‘tình yêu’ dành cho Alex Turner từ những ngày đầu nhìn thấy anh chơi nhạc. Cũng giống như tôi dành tình yêu cho Murakami hay Radiohead hay Manchester United, thật sự rất khó và gần như không thể nói được lý do tại sao tôi lại yêu thích anh chàng này đến vậy. Tôi chỉ biết rõ 1 điều rằng, cái tình yêu mà tôi dành cho anh ta và âm nhạc của anh ấy không phải kiểu thích điên cuồng trong 1 giai đoạn nào đó rồi thôi. Mà nó cứ âm ỉ và ngày càng trưởng thành theo năm tháng, theo dòng đời mỗi lúc tôi lớn lên. Và đến tận hôm nay, tôi mới ‘mượn’ được bài viết này, để kể cho bạn câu chuyện về Alex.

—-

Tháng 12 năm 2003, cậu bé Alex Turner 17 tuổi, tung tăng tự do ở London, đã nghĩ rằng mình đang ở những tháng ngày hạnh phúc nhất. Qua đêm trong căn phòng giá 30 bảng của Golders Green B&B, đắp chung chăn với 2 cậu bạn thân Matt Helders và Ander Nicholson, chàng barman bán thời gian đến từ Shefflied ấy trông coi một trong những địa điểm tổ chức âm nhạc nổi tiếng nhất phía Bắc London, Alexandra Palace. Thời ấy, band The Strokes đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, có một buổi diễn trên sân khấu tại đó, cậu bé fanboy Alex đã có cơ hội được gặp 2 thần tượng của mình, trưởng nhóm The Libertines Pete Doherty và tay guitar chính Carl Barat cũng đang đứng trong đám đông xem show diễn.

Trò chuyện với NME năm 2011, Turner vẫn còn hào hứng nhớ lại ‘cuộc phiêu lưu nho nhỏ’ mà cả bọn đã có đêm hôm ấy. ‘Có thể là mấy chú ấy ghét nghe điều này lắm’, Alex tuôn ra khi nói về The Strokes, ‘nhưng họ là band nhạc mà khuyến khích tôi xé toạc gối quần jeans rồi viết lên đó bằng bút lông không xoá được. Tôi đã viết lên đó dòng mực đỏ: ‘I’ve got soul and I’m superbad!”

Alex chụp hình chung với The Strokes

Chính xác 2 năm kể từ show diễn đó, con tạo đã xoay vần đến mức không thể nào hình dung ra được. Lần này, đến lượt The Strokes là những người há hốc mồm chứng kiến một band nhạc mới siêu hay ho có tên gọi Arctic Monkeys chơi 25 phút tái hiện lại những âm thanh kinh điển một thời mà The Buzzcocks đã từng tạo ra, kể từ ngày mà 2 bậc tiền bối Johnnys (Ramones và Rotten) đã sáng tạo nên nhạc Punk hơn 3 thập niên về trước. Đó cũng là thời điểm mà Turner (cùng đồng bọn: Nicholson, Helders và Jamie Cook) đã hoàn toàn soán ngôi của thần tượng Doherty trở thành những người viết nhạc hàng đầu UK, sẵn sàng để bước ra sàn diễn toàn cầu.

Và ngày hôm nay, chàng ta vẫn vững vàng ở đó. Những tác phẩm của chàng đã nhận được vô vàn lời ca ngợi, từ huyền thoại chân thành như David Bowie: “một niềm vui thích đấy.” cho đến tay to nhạc Rap Diddy: “Arctic Monkeys quá hay ho đi chứ!!!” thậm chí đến chính trị gia như Gordon Brown (nhưng thôi tốt hơn hết là không nên trích dẫn) và thậm chí là nhà thơ Simon Armitage: ‘Chúa phù hộ cậu ấy.’ Và hãy đối mặt với sự thật đi, có thể là bạn cũng phải ngợi khen cậu ta nữa rồi.

Nhưng điều gì đã thật sự lên dây cót cho Alex Turner chạy nhanh đến thế? Suốt 5 năm qua tôi đã phỏng vấn cậu ấy vô số lần, chứng kiến cậu chàng phát triển và tiến bộ. Tháng 1 năm nay, Alex sẽ đánh dấu tuổi 30 và chỉ vài tuần sau đó là kỉ niệm 10 năm Arctic Monkeys thay đổi cuộc đời với album đầu tay ‘Whatever People Say I Am, That’s What I Am Not’. Tuần này, LP thứ 2 của cậu chàng và anh bạn thân Miles Kane, dự án bên lề The Last Shadow Puppets sẽ trình làng với cái tên ‘Everything You’ve Come To Expect’. Và lúc này, Alex đã và đang sống một lúc nhiều cuộc đời, xẹt qua lại khắp nơi trên thế giới, biến hình thành 1 hoàng tử RocknRoll thực thụ: tóc bóng mượt, đĩa nhạc vàng, sống thượng lưu ở LA và một danh sách cặp bồ hạng A hoàn hảo.

33aecd07cf74f86089055e9b907f4a10

Trong lần được feature lên bìa NME đầu tiên năm 2005, Alex đã nói: “Tôi thích nghĩ rằng mình đang đi trên dây nối giữa 2 đầu 1 là Mike Skinner (một rapper indie người Anh) và một đầu là Jarvis Cocker (trưởng nhóm Pulp – một trong những ban nhạc định hình nên Britpop thập niên 90). Một lời tuyên bố rất ‘chất’ nhưng chính bản thân Alex cũng biết rằng, điều đó sẽ không thể kéo dài. Cũng như Cocker đã từng nhảy ra trước khi con tàu Britpop chìm đắm năm 1997, Turner đủ tinh khôn cho dù mới 19 tuổi để biết rằng, mặc cho Arctic Monkeys đang là một hiện tượng thời bấy giờ, cậu chàng sẽ không thể nào cứ tiếp tục viết lặp đi lặp lại những ca khúc như đã làm trước đó: hoành tráng, tươi vui, những ca khúc ‘quốc dân’ về việc chứng kiến những ban nhạc tệ hại chơi ở Sheffield nơi Alex làm bar tender (bài “Fake Tales of San Francisco”) hay về những cuộc chạm trán kỳ lạ với những gã cặn bã bên ngoài phòng tập của Arctic Monkeys (‘When The Sun Goes Down’) và về việc nghèo rách túi chỉ thèm khát có được một đôi sneaker Reebok mới (bản ‘A Certain Romance’).

Arctic Monkeys 2005

Trò chuyện với anh chàng nhiều năm sau khi sự cuồng về việc Arctic Monkeys-mang-chất-Beatles lắng xuống, Turner nói với tôi rằng anh chàng đã sững sờ chết điếng về những thứ tào lao mà mọi người gán cho anh. Một trong những sự kiện đáng nhớ là trong vòng 6 tháng kể từ lần lên bìa và phỏng vấn độc quyền đầu tiên, Alex đã tự ‘phản bội’ lại chính bản thân mình trước đó bằng việc tuyên bố rằng đĩa đơn ‘Leave Before The Lights Come On’ sẽ là lời chia tay của anh dành cho một Alex Turner mà cả đất nước đang mê đắm và kỳ vọng. “Đó là ca khúc cuối mà tôi viết về việc đi chơi lòng vòng và mọi kiểu thế,’ cậu chàng giải thích, nhằm vĩnh viễn đóng lại một chương trong cuộc đời. ‘Cuộc sống của tôi bây giờ thật sự không giống anh chàng đó chút nào nữa rồi.”

Và quả thật là kể từ đó, Alex đã gần như phải tự mình lột xác rất nhiều lần nữa. Mỗi ca khúc mà anh chàng viết trong album thứ 2 “Favourite Worst Nightmare’ đều trưởng thành và chững chạc hơn, màu sắc đa dạng hơn và thậm chí là kỳ lạ hơn những chất liệu mà anh đã có khi còn teen, và mỗi mẻ anh cho ra đời sau đó đánh dấu một chặng đường anh đã đi xa hơn từ xuất phát điểm Shefffield ban đầu.

“Việc bạn có thể nhìn được qua vai mình có ý nghĩa quan trọng thế nào bạn biết không?” Anh ta đã hỏi như thế trong thông cáo báo chí đi cùng với album ‘Everything You’ve Come To Expect”.

“Chẳng phải là nó chẳng hề hào hứng hay thú vị khi cứ ôm mãi vào một điều gì đó hay một quan điểm của ai đó – bằng việc để cho điều đó ra đi và khám phá những gì đang diễn ra trước mắt bạn?”

Đây chính là điểm then chốt làm nên Alex Turner 2016. Đó là lý do giải thích cho việc trong khi cả nền báo chí Anh đang bận rộn với việc tâng bốc cậu chàng là một ‘Noel Gallager mới’ hồi 2005 (Noel Gallagher là người sáng tác chính, guitar chính của Oasis, ban nhạc đã làm nên Britpop) thì chàng ta đã bỏ hết những vị thế để trở thành ‘cậu bé vàng’ của kỷ nguyên Britpop 2.0 mà chạy thẳng đến sa mạc California với trưởng nhóm Queens Of The Stone Age Josh Homme. 2 ban nhạc đã đi tour cùng nhau năm 2007, và từ đó gã Rocker người Mỹ đã trở thành một hình tượng kiểu Jedi knight (hiệp sĩ Star Wars) đối với Arctic Monkeys, mà nhất là với Turner.

Nó cũng giải thích cho việc khi mà album ‘Humbug’ do Homme sản xuất cho Arctic Monkeys đậm chất pyschedelic đã khiến rất nhiều fans của Monkeys hoảng sợ, Turner vẫn có thể phản ứng một cách rất thông minh và đảo chiều khi ngay sau đó cho ra đời album ‘Suck It and See’ 2011 đầy nhịp điệu và đậm chất New York, trong đó kể về sự mê đắm của anh với cô bạn gái nổi tiếng Alexa Chung – fashionista và người dẫn chương trình truyền hình – trước khi hoàn toàn thu mình để tránh khỏi cái thế giới nhơ nhớp ‘sau giờ làm’ của Hollywood mà anh đã trải nghiệm trong một album mê hoặc toàn thế giới: “AM” ra đời vào 2013.

Alex Turner & Noel Gallagher

Alex Turner sẽ luôn chuyển động và luôn luôn làm việc. Nó là tinh thần không bao giờ ngoái đầu nhìn lại và nó cũng giải thích cho việc tại sao sau này Monkeys rất hiếm khi chơi live lại những sáng tác trong 2 album đầu tay. “Chơi lại mấy ca khúc đó để làm gì khi mà tụi tôi bây giờ không còn ở trong mấy bài hát đó nữa rồi?”, anh chàng đã nói thẳng với tôi như vậy. “Nó như kiểu tụi tôi đang phải chơi cover lại mấy bài hát khác, nhưng dù thế nào thì cũng không thể cover lại ‘Fake Tales of San Francisco’ được đâu…”

Lúc nói ra câu đó, Alex đang ngồi trong chuyến xe bus đi tour cho album ‘Suck It And See’, ngay trước khi cả band bắt đầu cho 1 chuyến hành trình đầy nghiêm túc tiến đến Hoa Kỳ.  Turner, giờ đây tóc chải ngược bóng lộn, mới vừa cắt phang kiểu tóc bob mái ngang như thời Beatles, nhìn từ đầu đến chân mỗi inch đầy chất Rockstar: áo da đen tuyệt đẹp, kính phi công gọng vàng, quần jeans Levis’ kiểu Joe Strummer (ca sĩ chính người Anh của nhóm The Clash), boots da đen cổ cao bụi bặm, nhẫn và dây chuyền vàng to bản. Cậu chàng cứ loay hoay liên tục, thảy 2 cục xúc xắc nhỏ vòng quanh cái bàn trong khi suy nghĩ và cân nhắc một cách chậm rãi – nhưng dường như không thể tìm được câu trả lời – về việc làm thế nào thành công lại đến với mình như thế.

Đó chính là cách mà Turner thể hiện trong những buổi trả lời phỏng vấn. Đầy cân nhắc, tinh tế nhẹ nhàng, yên lặng và hết sức cẩn trọng. Khi ngồi cùng với những thành viên của band, anh chàng sẽ gần như đợi mọi người nói xong hết rồi mới kết thúc bằng những câu chốt đầy thú vị và thông minh. Anh chàng sẽ nhăn mặt nếu bạn có ý định ‘hỏi xoáy đáp xoay’ về những chủ đề ‘sâu sắc’ như lyrics các ca khúc của chàng chẳng hạn – trước mặt mọi người (“Đừng làm như vậy với tui nhé Matthew, không phải là trước mặt mấy thằng bạn tui.” Nhưng khi bạn có dịp ngồi một mình với anh ấy, cậu chàng sẽ cởi mở một cách bừng sáng, dẫn dắt và khơi mào cho mọi dòng chảy đối thoại như thể lời lẽ tuôn ra suối chảy trên những bản thu âm.

“Tui nói với anh là tui có 1 cái bảng phóng phi tiêu, phải không nhỉ?” chàng ta đã nói chuyện đó 1 lần rồi, như thể anh ta đang dẫn dắt bạn vào một bí mật to lớn khi giải thích về quy trình viết nhạc cho album ‘AM’. Và theo 1 cách nào đó, với Turner, thậm chí một việc rất bình thường như việc chơi phóng phi tiêu ở trong căn hộ cũng có thể biến thành một nguồn cảm hứng, một thông điệp cho việc sáng tạo. “Tui sẽ chơi phóng phi tiêu, và chắc chắn sẽ có 1 sự đối xứng giữa việc cố gắng định hình những dòng lyrics đang vẩn vơ loanh quanh với việc ghim phi tiêu vào cái bảng. Nó kỳ cục.”

Hẳn Alex là một kẻ mộng mơ, vĩnh viễn muôn đời anh ta vẫn như thế – mặc cho anh ta đang trú ngụ hay xuất phát điểm từ chốn nào. Đây có lẽ là cái đã xúi giục tạo nên sự thay đổi lớn nhất trong con người Turner khi anh ta càng lúc càng già đi. Càng để cho cái tính cách ấy thẩm thấu qua những ca khúc , đổi thay tiết tấu từ kiểu bắn liên hồi của những bản nhạc thuởu hỉ mũi chưa sạch như ‘The View From The Afternoon’ và ‘Teddy Picker’ đến những ca khúc ngày một gợi tình và tự do thoải mái như ‘No 1 Party Anthem’, ‘Miracle Aligner’, Alex ngày càng dấn sâu và thể hiện vai trò của một người sáng tác nhạc.

“Thật lòng thì bạn chẳng thể nào dự doán chuyện quái gì sẽ đến tiếp theo với Arctic Monkeys”, người quản lý của ban nhạc, Ian McAndrew đã nói ở diễn đàn Music Business Worldwide 2015. “Nhưng bất kể họ làm gì, bạn sẽ không bao giờ có thể mất niềm tin, nhất là với Alex khi anh chàng viết nhạc. Kỹ năng và sự trữ tình trong âm nhạc của cậu ấy luôn phát triển. Cậu ấy là một nhà soạn nhạc vô cùng đặc biệt.”

Và là một người không bao giờ ngừng nghỉ. Năm ngoái, cậu chàng tiêu tốn 1 cách nghiêm túc toàn bộ khoảng thời gian nghỉ Arctic Monkeys vào việc viết nhạc và thu âm cho album ‘Everything You’ve Come To Expect’, rồi một vài ca khúc cho ban nhạc L.A Mini Mansions và theo như được biết, là anh chàng còn làm cả 1 album bí mật cho Alexandra Savior – người được mệnh danh là 1 Lana Del Rey mới của nước Mỹ.

Phản chiếu điều đó với khoảng thời điểm 2008 và 2010 khi những thành viên còn lại của Arctic Monkeys đều dành 1 khoảng thời gian cần thiết để nghỉ ngơi giữa những albums, Turner mặt khác thì lại lao vào viết nhạc và ra mắt album đầu tay với dự án The Last Shadow Puppets, rồi thu âm cho nhạc film Submarine của Richard Ayoade. Tính đến hiện tại, anh chàng đã có gần 150 ca khúc ra mắt từ 2005, cạnh tranh với con số 180 của 2 huyền thoại Lennon & McCartney ở thời hoàng kim của The Beatles và thậm chí hơn Noel Galler lẫn Radiohead làm được trong 1 thập kỷ đầu tiên của họ.

Và đến bình minh của 2016 Turner sẽ chính thức bước vào tuổi 30, chàng ta không hề nôn nóng về việc kỷ niệm 10 năm album đầu tay ‘Whatever People Say I Am, That’s What I Am Not’. Thay vào đó, công ty thu âm của anh chàng – Domino – dành tuần lễ kỷ niệm để thông báo về việc phát hành album ‘Everything You’ve Come To Expect’.

Được thu âm tại phòng thu Shangri La của nhà sản xuất Rick Rubin dưới những rặng dừa Malibu suốt những tháng cuối 2015, cấp độ ghê gớm của việc thay đổi nơi chốn này so với những gì từng là xuất phát điểm của Turner có thể khiến những ban nhạc thấy hoảng chứ đừng nói đến fans. Họ dùng cái xe bus đi tour cũ của Bob Dylan làm nơi mix nhạc, đốt nhang trầm suốt ngày và bạn có thể ngửi thấy mùi Thái Bình Dương qua làn hơi ấm áp thanh bình nhiệt đới.

tumblr_o34xmk81Zk1thz4e2o1_1280

Alex Turner & Miles Kane: “Everything You’ve Come To Expect” 2016

Nhưng cái lâu dài và điều quan trọng nhất với Turner khi cậu chàng ngày càng trưởng thành hơn – mà vẫn là một trong những người sáng tác đầy cảm hứng và làm say đắm số 1 nước Anh – đó là điều làm nên con người anh ấy: không bao giờ ngừng nghỉ, cứ mãi kiếm tìm và hoàn toàn kiên định trong khát khao không bao giờ ngủ quên trên những vinh quang quá khứ.

“Viết nhạc với tôi như ngồi chờ đợi được giao hàng đến,” (chắc là anh ấy muốn nói đến sự bồn chồn, sốt ruột mong ngóng – chú thích của người dịch) anh ta từng nói 1 lần khi tôi hỏi tất cả những cái này đến từ đâu. “Luôn luôn có 1 cái gì đó…biết đâu nó sẽ biến mất 1 ngày nào đó? Lúc đó thì tôi có thể bỏ cuộc và đi làm vườn hay gì đấy.’ Cậu chàng tiu nghỉu trước khi yên lặng quay trở về với cuộc trò chuyện. “Nhưng nói thật với anh, tôi làm gì có thời gian mà lo chuyện đó.”

Dịch bởi indieglory – Saigon, 06.05.2016 

 Nguyên gốc bài viết của Matt Wilkinson: http://www.nme.com/features/who-is-alex-turner-the-full-nme-cover-feature

‘Being There’ – Wilco (1996)

‘Being There’ là album nhạc thứ 2 trong sự nghiệp của Wilco, nhóm nhạc Alternative rock đến từ Chicago, Illinois U.S. Album được xem là 1 sự tiến bộ của nhóm cả về mặt doanh số bán đĩa lẫn nhận định từ giới phê bình, so với album ‘A.M’ trước đó.
Được đặt theo một bộ phim cùng tên ‘Being There’ năm 1979, album này là một nỗ lực tự sản xuất với nhiều những ca khúc mang màu sắc siêu thực và nội tâm hơn trước.

Being There – Wilco

Wilco được thành lập năm 1994 sau những bất đồng về mặt sáng tạo giữa Jeff Tweedy và Jay Farrar dẫn đến sự tan rã của nhóm alternative country Uncle Tupelo.
Những ý niệm đầu tiên tạo nên chất liệu cho ‘Being There’ đến từ một khoảng thời gian áp lực nhất định trong cuộc sống của Tweedy. Tweedy lúc đó mới bỏ hút cần sa, lượng khán giả đến các buổi diễn của band thì ngày càng thưa thớt. Tweedy cũng đang xoay sở để cứu vãn cuộc hôn nhân trong bối cảnh nợ nần cầm cố và 1 đứa con nhỏ mới chào đời.

Jeff Tweedy

Với ‘Being There’, Tweedy muốn trộn lẫn những trải nghiệm của anh ở góc độ một nghệ sĩ sáng tạo âm nhạc lẫn 1 người nghe nhạc bình thường. Ca khúc đầu tiên Tweedy viết trong album này là bản ‘Misunderstood’, bản nhạc về một người nghệ sĩ âm nhạc “bị dằn vặt” từ góc nhìn của một người hâm mộ. Ca khúc chứa đựng những dẫn chứng công khai về việc tan rã của Uncle Tupelo, bao gồm cả những từ ngữ sỉ nhục mà Farrara đã từng dùng để chỉ trích Tweedy, đặc biệt là từng gọi Tweedy bằng cụm từ ‘mama’s boy’. Sự ‘hỗn loạn’ của album này được thể hiện ngay từ phần mở đầu của ca khúc ‘Misunderstood’ với một nền thanh âm đầy tiếng nhiễu của guitar và trống. Nhưng ngay sau đó là 1 nền keyboard nhẹ nhàng với giọng hát trầm ấm của Tweedy, như lời tâm sự của 1 người đàn ông cô độc bên khói thuốc lá trong góc 1 quán bar buổi đêm ồn ào.

Wilco

Chủ đề về ‘người nghệ sĩ bị dằn vặt’ còn xuất hiện trong nhiều các ca khúc khác của album. Cái kết trong ca khúc ‘Sunken Treasure’ với tiếng kêu của Tweedy như một sự hồi tưởng với những tháng năm tuổi trẻ cháy hết mình cùng nhạc punk.

Sự phân chia về phong cách âm nhạc trong album này khá rõ ràng, thể hiện qua các ca khúc như ‘Hotel Arizona’, ‘Sunken Treasure’ và ‘Misunderstood’ mang những ngôn ngữ riêng và màu sắc siêu thực hơn khi đặt cạnh cùng những bản nhạc vẫn âm hưởng bởi country rock như ‘The Lonely 1’ và ‘Far Far Away’. Không giống như ‘A.M’ là album nhạc hướng đến người nghe trên radio, với ‘Being There’, Wilco không hề có ý niệm nào về việc album này sẽ sản sinh ra những bản hits trên sóng phát thanh.

Radiohead – ‘Ok Computer’

Radiohead – Ok Computer

Cách đây 1 ngày, ngày 25.03.2015, những ai yêu mến Radiohead đã đón nhận 1 thông tin rằng Hội đồng Thư viện Hoa Kỳ đã chính thức lựa chọn album ‘Ok Computer’ của nhóm vào hạng mục lưu trữ ghi âm của Thư viện quốc gia.

Hạng mục lưu trữ ghi âm của Thư viện quốc gia Hoa Kỳ là nơi lưu giữ những bản nhạc, bản ghi âm, bản phát thanh và tư liệu đã nắm bắt được lịch sử văn hoá của nước Mỹ, đồng thời là những phát kiến hay tiến bộ về mặt kỹ thuật thu thanh.

‘Ok Computer’ poster

Điều này đồng nghĩa rằng album ‘Ok Computer’ giờ đây đã trở thành tài sản của nước Mỹ, của người dân Mỹ và được lưu trữ và bảo tồn, gìn giữ để cho mục đích nghiên cứu, học thuật ở hiện tại và lưu truyền cho hậu thế sau này. Nên nhớ ‘Ok Computer’ là 1 album nhạc được sản xuất ở Anh do 1 ban nhạc 100% Anh quốc làm ra nhé. Người Mỹ lòng tự tôn dân tộc rất cao, và họ gần như chẳng bao giờ để cho 1 tài sản được sản xuất ở 1 quốc gia khác nằm trong di sản lịch sử và văn hoá của mình.

‘Ok Computer’ được nhận định là một album nhạc mang tầm vóc lịch sử với dấu ấn văn hoá và thẩm mỹ nhất định. Đồng thời, đề tài mà album nhạc này mang đến ở thập niên 90s vẫn đang phản ánh nỗi muộn phiền của hiện tại: thời đại của chủ nghĩa tiêu dùng, kỹ thuật số, máy tính, công nghệ, sự xa lánh về mặt xã hội thật và sự cô độc cùng những ảo tưởng.

Câu chuyện của tôi với ‘Ok Computer’ là nhiều những mẩu chuyện vụn vặt. Mà bắt đầu là từ năm 1998, một năm sau khi album ra mắt, Radiohead thắng giải Grammy cho hạng mục ‘Best Altenative Music’. Năm đó, tôi đang điên cuồng say mê Backstreet Boys. Và tôi đọc đâu đó trên 1 tờ tạp chí âm nhạc, họ ngợi ca những gì Radiohead đã làm được với ‘Ok Computer’ là ‘cuộc cách mạng’. Nhưng tôi chẳng hiểu gì cả.

Radiohead năm 1998

Đến năm 2004, là lúc tôi bắt đầu nghe Rock được khoảng 2 năm thì tôi đang mò mẫm với Alternative music. Và trong 1 lần lục lọi đọc những bài viết về nhạc Alternative trên diễn đàn Trái Tim Việt Nam Online, tôi đã đọc 1 bài review rất hay về ‘Ok Computer’. Bài review với đại ý rằng ‘Ok Computer’ là 1 album nhạc phi thường, nó vượt ra khỏi những khuôn thước và khác biệt hoàn toàn so với dòng Britpop mà các band nhạc Alternative của Anh vẫn hay chơi thời đó. Và hơn thế nữa, một khi mình đã thật sự nghe và thích nó, thì nó sẽ là 1 hành trình đưa mình đến những trải nghiệm không ngờ. Một hành trình mà bạn sẽ phải đánh mất mình, để tìm lại mình.

Và sự thật album này chính là như vậy. Ngày đó tôi không hiểu rõ lắm, nhưng tôi đã có những buổi tối nghe Ok Computer miệt mài và cũng chỉ cảm nhận được nó là 1 cái gì đó rất … lạ lùng và hỗn mang, giống như … vũ trụ vậy.

Cho đến sau này, khoảng từ năm 2008, tôi nghe lại ‘Ok Computer’ và bắt đầu cảm nhận được nhiều hơn. Một cái cảm giác lúc nào cũng là hướng vào sâu bên trong. Không bao giờ là kiểu muốn bung ra bên ngoài. Cảm giác như trong lòng mình có 1 cái giếng thật sâu, mình chỉ muốn leo xuống đến tận cùng, ngồi ở dưới cái đáy tối tăm đó, mà lắng nghe và thở. Lúc đó chỉ có mình với bản ngã của chính mình. Không còn 1 thứ gì có thể tác động đến mình nữa. Sợ hãi, hoang mang, dằn vặt… tất cả sẽ tự bộc lộ ra hết thảy.

Sau này khi tìm hiểu tôi mới biết chính bản thân Radiohead cũng rất can đảm và nỗ lực hết mình để tự giải thoát họ khỏi những gì họ đã tạo ra ngay trước đó. Đó là thành công ngoài mong đợi của album ‘The Bends’ (tôi cũng vô cùng thích The Bends).

Radiohead đã dám tự mình sản xuất toàn bộ album ‘Ok Computer’ với 1 producer hoàn toàn mới là Nigel Godrich (người sau này đuợc xem là thành viên thứ 6 của ban nhạc) ở 1 toà nhà như 1 cái biệt thự ở vùng hẻo lánh, cách xa thành phố. Và họ thử nghiệm hết cái này đến âm thanh khác. Cả về lời hát lẫn giai điệu, ý tứ nhạc, cách hoà âm phối khí. Một cuộc lột xác.

Có thể nói ‘Ok Computer’ là một album không chỉ tuyệt vời hơn hết thảy nếu so với những album Alternative ở cùng thời đại 1990s, mà những gì nó đặt ra đã khiến Radiohead đi từ cuộc cách mạng này đến những sáng tạo to lớn khác. ‘Kid A’ nối tiếp sau đó là 1 minh chứng cho thấy họ không dừng lại.

Nếu đi sâu tìm hiểu thì bản thân ‘Ok Computer’ giống như 1 cuốn tiểu thuyết nho nhỏ với rất nhiều những câu chuyện ẩn đằng sau đó. Từ việc vẽ bìa đĩa và các artworks, cho đến lời hát, rồi những nguồn cảm hứng về âm nhạc hay và những diễn giải về những ẩn dụ, ẩn nghĩa ở trong album.

Và ‘Ok Computer’ đã gây một ảnh hưởng sâu sắc đến âm nhạc Britpop thời bấy giờ, mở ra cánh cửa để những ban nhạc thế hệ kế tiếp sau đó kế thừa và phát huy một cách mạnh mẽ hơn: Coldplay, Bloc Party, TV on The Radio, The Verve… là một trong số đó.

Chris Martin, frontman của Coldplay, đã từng phát biểu sau sự kiện ngày 11.09 rằng: “Nó sẽ rất là thú vị khi có thể nhìn thấy thế giới khác đi như thế nào nếu Dick Cheney (phó tổng thống Mỹ thời bấy giờ) thật sự nghe ‘Ok Computer’. Tôi nghĩ thế giới rất có thể sẽ tiến bộ hơn. Album nhạc đó tuyệt vời chết mịe (fucking brilliant). Nó đã thay đổi cuộc đời của tôi, vậy thì tại sao nó không thể thay đổi cuộc đời ông ta nhỉ?”

Và tôi nghĩ, theo 1 cách nào đó, ‘Ok Computer’ cũng đã thay đổi cuộc sống của tôi, thay đổi cách tôi nhìn nhận và cảm nhận về âm nhạc.

My Song of The Year.

Hôm vừa rồi đi xem Zing Music Awards 2013. Sau hơn 1 năm làm VNG thì cuối cùng cũng có vé đi xem cho biết chương trình công ty làm thế nào. Và đúng là cái gì mình không mong đợi thì thực tế lại khiến mình ngạc nhiên. Một chương trình được dàn dựng rất tốt, công phu và hoàn hảo, dĩ nhiên là vẫn thiên về giải trí hơn là nghệ thuật. Tuy nhiên với vai trò đại diện cho những tai nghe nhạc trực tuyến, thì Zing Mp3 đã làm rất tốt việc tổng kết những gì nổi bật nhất, được nhiều người nghe và quan tâm nhất trên Zing Mp3 trong 1 năm qua, cả mainstream lẫn underground.

Chỉ có điều đến phần công bố các đề cử cho ‘Ca khúc Pop/Rock Hay Nhất’ do Microwave giới thiệu thì cả 3 bài được đề cử đều là nhạc … Pop. Không có 1 bài nhạc Rock nào cả. Microwave giới thiệu 3 đề cử đó chắc cũng thấy … kỳ cục và mình là người xem, thích nhạc Rock thì còn thấy … kỳ cục hơn.

Rồi mình tự hỏi, tại sao nhạc Rap thì có rất nhiều đề cử, mà thậm chí là đoạt những giải quan trọng, trong khi Rock lại không hề có 1 ca khúc nào. Nghĩ lại thì có 2 lý do:

  1. Trong năm qua Rock có những sáng tác nào mới nổi bật?
  2. Lượt người nghe/tải về/chia sẻ của những sáng tác đó ra sao?

Với ca khúc ‘Forever Alone‘ của rapper Justa Tee (thật ra đây không phải là 1 bài nhạc Rap) thì có hơn 3 triệu lượt nghe. Trong khi sáng tác ‘Tình Yêu Ấy‘, một sáng tác đầy chất lượng hợp tác giữa vocalist K-Hau của KOP (tham gia The Voice 2013), guitar Hùng M.O.X và các thành viên ban nhạc Cuộc SốngS thì chỉ có khoảng … 8,000 lượt nghe.

Vì vậy mới thấy, những sáng tác có chất lượng của nhạc Rock còn rất hạn chế trong việc tìm đến được với số đông người nghe. Vậy thì có người sẽ nói, nhưng số lượng người nghe và thích Rock thật sự đâu có nhiều? À, thế thì hãy thử nhìn vào Rockstorm năm nay mà xem. Tour lưu diễn qua 6 thành phố lớn với số lượng người mua vé tham gia mỗi show từ 10,000 khán giả đến 20,000 khán giả. Vậy nhẩm tính là có trung bình khoảng 800,000 khán giả Việt Nam đến nghe nhạc Rock, chưa kể là còn 1 số lượng người yêu Rock mà không đi Rockstorm nữa. Nhạc Rap đâu có 1 show nào quy tụ cả chục ngàn khán giả như vậy? Thế mới biết có những cái ‘nghịch lý’ rất kỳ cục ở Việt Nam :D.

Chỉ có 1 điều có thể lý giải cho chuyện này, đó là với riêng trường hợp bài ‘Forever Alone’ của Justa Tee thì đó thật sự là 1 ca khúc thời thượng, đánh trúng ‘tâm lý’ và chủ đề đang ‘hot’ của giới trẻ bây giờ. Vì thế khắp các quán cafe, bar… cho teens liên tục mở ầm ầm và lượt nghe cứ gọi là cao chót vót.

Thế đấy. Mà thôi, nói lan man dài dòng cho vui vậy, chứ mục đích thì tôi muốn ngồi nhìn lại xem 1 năm qua nhạc Rock đã có những sáng tác nào chất lượng, để chọn ra 1 ca khúc mà tôi yêu thích nhất.

Và cuối cùng tôi đã chọn: ‘Tình Yêu Ấy‘. Bản ballads là sự kết hợp của nhiều cá nhân giỏi, tài năng và trẻ trong làng nhạc Rock Việt: vocalist K-Hau của KOP, guitarist Hùng M.O.X, trống & keyboard đến từ Cuộc SốngS band, với phần mix của Nông Tiến Bắc.

Hãy cùng nghe lại tác phẩm này nhé:

Anh bây giờ bối rối khi nhìn em cười
Vì em có đâu hạnh phúc?
Nhưng thời gian có lỗi hay là anh quên
Đường về năm ấy?
Bridge 1:
Thời gian không bất tận
Tuổi xanh hai ta đã tận
Chỉ mình anh quên
Chỉ mình anh quên
Mùa đông không níu chân lại
Và tình yêu trong anh sống lại
Chỉ mình anh quên
Chỉ còn em nhớ
Verse 2:
Anh một mình
Đứng giữa khung trời vô định
Lặng nghe tiếng ca thầm kín
Ôi thời gian,
Quá khứ có dành cho anh?
Một ngày vui nữa…
Bridge 2:
Thời gian không bất tận
Tuổi xanh anh và em đã tận
Chỉ mình anh quên
Chỉ mình anh quên
Mùa đông không níu chân lại
Và tình yêu trong anh sống lại
Chỉ mình anh quên
Chỉ còn em nhớ
Chorus:
Một trưa hè buông nắng
Một giao thừa mưa đẫm
Một con đường bên nhau
Dù có dài bao lâu
Một nụ hôn đầu say đắm
Còn ướt mịn sưởi ấm
Anh…

Anh không thể nói dối em bằng con tim của tình yêu ấy.

Even just for one day

Đang trong dòng cảm xúc và tâm trạng của mấy hôm sau khi xem xong film chiếu mở màn YxineFF năm nay: “Không Có Gì Quý” của đạo diễn trẻ Nguyễn Trọng Khôi.

Film thì nhiều người bao gồm báo chí và các anh chị phê bình, các bạn yêu thích điện ảnh đã review rồi. Đại đa số đều khen rất nhiều :).

Mình thì chỉ muốn nói những chi tiết tâm đắc nhất, đó là việc Khôi làm film xuất phát từ cảm hứng là âm nhạc. Khôi có nói rằng Khôi có cảm hứng từ những bản nhạc thậm chí trước cả khi hình thành kịch bản film.

Mà cụ thể với “Không Có Gì Quý” là 2 bản nhạc “Heroes” của David Bowie, bài này được làm nhạc nền cho bộ film “The Perks of Being A Wallflower“. Và thứ 2 là ca khúc “Down By The Water” của nhóm The Drums.

Cả 2 bản nhạc này đều có 1 sự xuất hiện ‘tinh tế’ trong film ‘Không Có Gì Quý‘. Bạn nào xem film để ý thì sẽ thấy ngay, mình không muốn spoil trước :p.

Và nhân tâm trạng đang ở đây, mình lôi ra xem lại 1 đoạn rất hay của ‘The Perks of Being A Wallflower‘. Một đoạn film khiến tôi luôn biết rằng, những ký ức không phải là vô ích và ở trong mình vẫn luôn còn đầy những khát khao muốn được sống hết mình. Với tôi đây chính là những nguồn cảm hứng vô tận trong đời sống.

Đó là đoạn này:

“Tớ không biết mình có còn nhiều thời gian để viết thư từ nhiều nữa hay không, bởi vì tớ sẽ phải tham gia vào các hoạt động này kia nọ. Vì thế nếu như đây có là là thư cuối cùng tớ viết cho cậu, thì tớ muốn cậu biết rằng, tớ đã ở dưới đáy vực trước khi bắt đầu vào trung học. Và cậu đã giúp tớ.

Cho dù cậu có thể không biết tớ đang nói cái gì, hoặc rằng cậu biết ai đó đã từng phải trải qua như tớ, thì ít ra điều đó cũng khiến tớ cảm thấy mình không đơn độc.

Bởi vì tớ biết có những người luôn nói rằng mấy chuyện này không có ngoài đời đâu. Và có những người cũng đã quên đi tuổi 16 họ đã thế nào ngay khi họ lên 17.

Một ngày nào đó tất cả những chuyện này sẽ đều chỉ còn là kỉ niệm thôi. Và những hình ảnh của chúng ta sẽ trở thành những tấm hình cũ kỹ. Và rồi tớ với cậu sẽ trở thành cha mẹ của một ai kia.

Nhưng ngay lúc này, những khoảnh khắc này không chỉ là câu chuyện…

Mà nó thật sự đang xảy ra. Tớ đang ở đây. Tớ đang nhìn thấy cô ấy. Và cô ấy tuyệt đẹp vô ngần.

Tớ có thể nhìn thấy được nó. Cái khoảnh khắc mà bạn biết rằng bạn không phải chỉ là một câu chuyện ưu sầu. Mà bạn sống. Và khi đó bạn đứng thẳng người lên, nhìn thấy những ánh sáng đèn từ các toà nhà kia và tất cả khiến bạn sẽ tự hỏi mình. Và cùng lúc đó, bạn lắng nghe thấy bản nhạc trên chuyến đi cùng với những con người mà bạn yêu quý nhất.

Và trong khoảnh khắc này, tôi xin thề rằng …

CHÚNG TÔI LÀ BẤT TẬN. “

Dù đời không như là mơ, nhưng thật sự chúng ta có thể là những anh hùng, dù chỉ là trong vỏn vẹn có một ngày mà thôi.

Sài Gòn, ngày 18 tháng 09 năm 2013

Tối nay tôi muốn viết về John Mayer.

Tối nay, một tối thứ 6 yên tĩnh. Tôi vừa uống whisky, định là sẽ nghe nhạc Jazz. Nhưng chợt nhớ ra John Mayer vừa mới ra album mới, nên quyết định down về nghe.

Tuy là với album trước đó, “Born and Raised”, thì tôi đã mất đi khá nhiều cảm xúc dành cho nhạc của anh này. Nhưng tôi vẫn muốn chờ thêm 1 album nữa, để xem sao.

Và quả thật với album mới này, thì tôi có thể khẳng định được rằng, nhạc của John đã thay đổi thật sự, kể từ “Battle Studies”.

John Mayer của thời “Battle Studies”, âm nhạc và con người anh có một mối đồng cảm mạnh mẽ đến với tôi. Rất mạnh. Nếu ai có đọc blog tôi từ những ngày đầu, khoảng thời gian 2010 thì sẽ thấy rõ lúc đó tôi viết nhiều về John và trích dẫn lyrics những ca khúc của anh khá nhiều.

John Mayer thời ‘Battle Studies’: đơn giản và tinh tế

Đó là giai đoạn mà theo tôi John đang trải qua những biến cố về mặt tình cảm và tâm lý của một người đàn ông. Thất bại nhưng vẫn cứng, vẫn muốn chứng tỏ rằng mình không gục ngã. Nhưng đêm về, đối diện với mình thì chỉ có cô độc và mệt mỏi ngập tràn. Thèm khát cảm xúc nhưng vô vọng. Chẳng thể làm gì khác hơn, anh ta trút hết vào âm nhạc. Cầm guitar lên mà dồn cảm xúc vào để chơi. Cầm bút lên mà dồn tâm trạng vào để viết. Không ngại ngần, không né tránh.

Tôi giai đoạn đó cũng y hệt như vậy.

Rồi sau đó thì John gặp sự cố về cổ họng. Một 1 thời gian sau khi chữa lành, anh ra album “Born and Raised” đi theo một hướng khác. Với concept là người đàn ông trải đời, hướng ra thế giới bên ngoài, khám phá nước Mỹ quê hương, sau một giai đoạn dài chỉ quanh quẩn ở bên trong.

John Mayer của ‘Paradise Valley’

Tiếp theo đó là album mới nhất “Paradise Valley” này. Tiếp tục xây hình ảnh một người đàn ông của nước Mỹ, tinh thần Mỹ, hướng về tự do, thiên nhiên và trải nghiệm. Về concept, art & creative thì cũng được (hơi hoa hoè rườm rà khăn khiếc vòng vèo các kiểu tí). Tuy nhiên 1 album cái quan trọng nhất là âm nhạc thì thật sự là … không ổn. Cả “Born and Raised” và “Paradise Valley” chất nhạc của John có khai phá và phóng khoáng hơn, tự do hơn một chút. Nhưng lại có vẻ sa đà vào kiểu dễ chịu nhàm nhàm của country, của pop. Cái đã từng làm nên thành công của John là cây guitar điện và ca từ sâu sắc, mạnh mẽ, đánh trúng tim đã không còn nữa. Không còn những đoạn guitar nghe như cứa lòng, hay rải nốt khiến mình phải lắng tai nghe mà chỉ đơn thuần là những hợp âm đều đặn vậy. Ca từ thì như vô thưởng vô phạt. Bắt đầu ca ngợi tình yêu một cách xinh hiền ngoan. Thế đó.

Tôi đã mong đợi rằng, khi John trải qua đủ những biến cố cả về thể xác lẫn tinh thần, để mà đứng vững mà sáng tạo thì âm nhạc của anh sẽ thật sự thoát ra, dám khai phá, thử nghiệm mạnh mẽ hơn và thăng hoa hơn nữa. Nhưng có lẽ “Continuum” và “Battle Studies” đã là 2 đỉnh cao của John rồi. Và như một quy luật tất yếu, qua đỉnh cao sẽ là đáy sâu. Có lẽ John phải trải nghiệm cả thất bại về mặt sáng tạo của một người nghệ sĩ thì anh mới có thể một lần nữa bùng nổ và thật sự tái sinh.

Saigon, tháng 08, 2013