Era

Nếu ngồi tính nhẩm xem ngoài nhà bố mẹ ra, nơi nào gắn bó với tôi lâu nhất, thì đó chính là Era.

Era là một trong những quán/tiệm cafe đầu tiên tôi đến, vào cái thời mới tập tành biết ‘đi cafe’. Đó là năm 2002, tôi đang học năm lớp 12 trường PTTH Phan Đăng Lưu, đến nay tròn 15 năm rồi đấy.

Đã có 1 thời gian, tôi xem Era như ‘căn phòng thứ 2’ song song với ngôi nhà mình. Cứ đi ra đường mà không biết đi đâu thì rẽ vào Era là yên tâm nhất. Cứ có chuyện gì bức bối trong lòng, vào Era ngồi đã rồi sẽ tính sau.

Tôi nhớ con đường Trần Quốc Thảo là nơi tôi hay thích đi vòng qua rồi mới về nhà sau những buổi học thêm ca tối. Bởi lẽ đường này và đường Phùng Khắc Khoan là 2 con đường nhiều cây cao, đẹp, mát, yên tĩnh ít xe cộ. Và tôi đã rất nhiều lần đi ngang nhìn từ ngoài vào Era, thấy những ngọn nến lung linh sau ô cửa kính lớn. Để rồi đến một buổi tối trời mưa tầm tã, tôi đã lấy hết can đảm chở cô bạn gái đầu tiên vào thẳng quán cùng lời nói dối: “Hoàng đã vào rồi, quán này sáng lắm chứ không tối đâu”.

Hình chụp bằng máy Sony của Khương và lens Leica Sumilux 35 1.4

Đó là lần đầu tiên tôi bước chân vào quán cách đây 15 năm. Và quả thật là vào rồi mới thấy, ở bên trong Era đủ sáng, đủ ấm và đủ riêng tư để ngồi 1 lần, và giờ là cả 1 đời.

­Era, là nơi chứng kiến mối tình đầu của tôi, và chứng kiến những tan vỡ, những hẹn hò, những cô đơn, mệt mỏi lẫn niềm vui.

Ở Era có 1 bầu không khí riêng, với cái bàn sát ô cửa kính gợi nhớ đến cafe Tùng Đà Lạt. Nhưng bầu không khí ở Era trầm mặc hơn Tùng nhiều. Mỗi góc bàn như 1 thế giới riêng. Những người đến Era để uống cafe cũng thật lạ, dường như bước vào sau cánh cửa gỗ ấy, không ai bảo ai, tự động gọi những thứ đồ uống đơn giản giống nhau mà chẳng cần liếc nhìn vào menu làm gì. Rồi họ ngồi lặng im với cái thế giới riêng của mình.

Hình chụp bằng máy Sony của Khương & lens Leica Sumilux 35 1.4

Và ở Era, tôi tìm thấy cho mình một gười bạn tri âm, tri kỷ: Lê Công Lý.

Về sau này, sau những biến cố, tôi đã 1 thời gian không bước chân vào Era lại. Rời xa cái bầu không khí đặc quánh ám đầy khói thuốc đó, bước đi tìm những không gian sáng sủa, rộng rãi hơn. Nhưng lâu lâu như một nỗi nhớ nhà, tôi lại tạt vào Era ngồi 1 lúc, chỉ ngồi những buổi sớm sớm hoặc giấc ban trưa. Bởi từ sau này, tôi hoàn toàn thay đổi thói quen, không bao giờ cafe vào buổi tối.

Và nhất là, tôi chỉ đến Era mỗi lần tiếp Lý, tiếp Khương trở lại Sài Gòn. Với bạn tri kỷ, ngồi Era như là được về nhà.

Hình chụp bằng máy Sony của Khương & lens Leica Sumilux 35 1.4

Một nơi chốn như vậy, phải mất đến 15 năm tôi mới viết cho nó trọn vẹn được vài dòng, tạm gọi là lưu giữ lại cả 1 miền ký ức đã qua.

Trải nghiệm Tokyo – cảm hứng từ Haruki Murakami: phần 1.

Hành trình đến Nhật của tôi chỉ có vỏn vẹn 5 ngày (không tính 1 ngày đi về). 2 ngày ở Osaka là dành cho Summer Sonic Festival & Radiohead. Còn 3 ngày ở Tokyo, tôi quyết định làm 1 hành trình nho nhỏ, khám phá những địa điểm mà nhà văn Haruki Murakami đã có nêu trong các tiểu thuyết của ông.

3 ngày là 1 khoảng thời gian không nhiều, nếu chia đều cho những hoạt động như ăn uống, mua sắm, etc… nên mỗi ngày tôi chỉ có thể chọn 1 địa điểm có liên quan đến Murakami để khám phá.

Ngày 1, văn phòng của Murakami.

Ngay ngày thứ 1, Tokyo đã chìm trong mưa bão suốt từ sáng sớm. Mưa và gió thổi không ngớt nhưng không thể phí thời gian ngồi nhà, tôi vẫn quyết tâm đi. Địa điểm đầu tiên mà tôi chọn đó là văn phòng của Murakami ở khu Aoyama. Aoyama là 1 khu nằm trong quận Minato ở phía tây bắc Tokyo, nơi đây nằm trên trục đường những cửa hàng thời trang cao cấp và nhà hàng sang trọng. Chúng tôi đi tàu điện ngầm từ ga Shibuya đến ga Meji-jingumae để đi bộ qua khu Cat Street, khu phố thời trang khá cool nằm trong khu Harajuku, trước khi hướng về phía Aoyama. Mưa càng về giờ trưa càng nặng hạt.

Đến khoảng 2h chiều, sau khi trú mưa thì chúng tôi bắt đầu vào khu Aoyama. Đường phố 2 bên khá là yên tĩnh, các khu dân cư nằm xen kẽ với những văn phòng và các studio thời trang. Tôi có được địa chỉ văn phòng của Murakami sau khi đã lục tung mọi ngõ ngách trên Google từ các blog và bài viết về ông. Và cho dù đã từng được cảnh báo trước rằng, ở Nhật mà có địa chỉ trong tay thì đi kiếm nhà cũng như…không có, nhưng tôi vẫn muốn thử xem sao, trải nghiệm mà.

Và sau gần 1 tiếng mò theo Google map, Google không thể định vị được chính xác địa chỉ mà tôi nhập vào, chỉ có thể tìm mang máng cái khu đó, thì tôi đã tin là…mình thất bại. Không thể tìm được vị trí cái nhà đó nằm ở đâu. Chúng tôi quyết định vào 1 tiệm Family Mart gần đó để hy vọng có thể hỏi ra gì đó. Hy vọng loé lên khi chúng tôi may mắn gặp được 1 cô bé bán hàng người Việt, nhưng cô bé sau khi lật bản đồ, cũng không biết địa chỉ này ở đâu. Và cô bé nhờ đến các bạn đồng nghiệp người Nhật, sau 1 lúc họ trao đổi thì thông tin chúng tôi có được cũng chỉ là địa chỉ này nằm ở đâu đó trong khu mà chúng tôi đã đi qua. Chúng tôi quyết định vòng lại đó để tra tìm thật kỹ. Thêm nửa tiếng dầm mưa sục sạo và kết quả vẫn…hệt như cũ. Thật sự bó tay. Tìm kiếm văn phòng của Murakami là thất bại đầu tiên. Và vì trời mưa không ngớt, nên tôi đã không chụp 1 tấm hình nào khu Aoyama này, coi như chuyến đi nửa ngày hoàn toàn là công cốc.

Thật ra thì tôi tìm đến văn phòng của Murakami không phải để tìm cách gặp ông ấy, mà tôi chỉ muốn có dịp đến thật gần, cảm nhận bầu không khí và mọi thứ xung quanh nơi ông vẫn ngồi viết hàng ngày, nhà văn và tác giả mà tôi ngưỡng mộ nhất.

Bonus 2 tấm hình tôi chụp khi ngồi trong 1 quán cafe trú mưa ở khu Aoyama.

Góc quán cafe nhìn ra màn mưa.

Góc từ trong tiệm cafe nhìn ra màn mưa.

 

Tấm này tôi chụp bằng máy phim khổ vuông qua lớp kính. Trời vẫn đang mưa. Và có 2 cặp bố mẹ dẫn 2 con rất dễ thương chia tay nhau đi 2 hướng.

Tấm này tôi chụp bằng máy phim khổ vuông qua lớp kính. Trời vẫn đang mưa. Và có 2 cặp bố mẹ dẫn 2 con rất dễ thương chia tay nhau đi 2 hướng.

Ngày 2, Jazz bar & Nakamuraya cafe

Ai quan tâm thì cũng đều biết Murakami rất mê âm nhạc. Ông có 1 bộ sưu tập đồ sộ đĩa vinyl ở tại văn phòng. Và trong đó nhạc Jazz là loại nhạc đã gắn bó với ông từ thời thanh niên. Murakami đã khởi nghiệp với 1 quán bar nhạc Jazz là Peter Cat tại Tokyo. Và sau này trong tác phẩm của ông cũng xuất hiện 1 quán bar nhạc Jazz, đó là quán DUG.

Quán DUG đã từng xuất hiện trong 1 đoạn ở cuốn “Rừng Nauy”. Đoạn mà nhân vật Toru và Midori, sau 1 giờ học tiếng Đức, đã bắt 1 chuyến xe bus đến khu Shinjuku và vào quán bar ở dưới tầng hầm, để được uống rượu vào buổi chiều mà không cảm thấy xấu hổ, ngại ngùng.

Đây có lẽ là địa điểm dễ tìm nhất trong hành trình khám phá Tokyo theo kiểu Murakami của tôi. Chỉ cần nhập vào Google map “DUG jazz bar” và đi theo hướng mũi tên chỉ, là bạn sẽ đến được quán bar vì có biển hiệu đàng hoàng. Quán mở từ năm 1967 và là 1 trong những quán tiêu biểu cho thời kỳ nhạc Jazz thịnh hành ở Nhật Bản thập niên 60-70s. Quán có những ngày chơi nhạc sống và những ngày không. Lúc chúng tôi đến thì quán chỉ mở DVD nhạc Jazz nhưng vẫn có phụ thu một ít (hình như là 500 Yên thì phải).

Biển hiệu của quán DUG

Biển hiệu của quán DUG

Menu của quán khá là đơn giản, không có gì quá đặc biệt hay signature nên tôi chỉ gọi một ly Old-Fashioned như bình thường. Ly rượu làm ổn, khá giống những ly Old-Fashioned kiểu Nhật tôi vẫn hay uống ở Sài Gòn.

Old-Fashioned cocktail kiểu Nhật.

Old-Fashioned cocktail kiểu Nhật.

Không gian của quán vừa phải, không quá nhỏ, không quá to. Không hiểu sao nhìn những cái bàn gỗ, ngọn nến đặt trên bàn và 1 kệ sách nhỏ, tôi lại nhớ đến Era cafe. Era… nơi tôi đã ngồi và lớn lên suốt thời thanh niên. Và quán này cho tôi cái cảm giác thân thuộc đó. À mà lẽ ra tôi nên gọi Daiquiri chứ không nên uống Old-Fashioned. Daiquiri là món cocktail hay xuất hiện trong cuốn “Phía Nam Biên Giới, Phía Tây Mặt Trời”. Hồi xưa trước khi đọc cuốn đó, có thời gian đến Era buổi tối muộn, tôi rất hay gọi Daiquiri. Rượu ở Era pha nhẹ, ngọt và mát, thêm lớp muối mặn mặn bám ở thành ly, uống rất thích. Nếu có lần sau quay lại, nhất định tôi sẽ uống Daiquiri.

Một góc không gian của quán gợi tôi nhớ về Era cafe.

Một góc không gian của quán gợi tôi nhớ về Era cafe.  

Logo của DUG jazz bar.

Phần này tôi viết hơi ngược một tí. Lẽ ra phải viết về quán Nakamuraya cafe trước, vì chúng tôi đi ăn trước rồi mới đi uống rượu. Nhưng tôi lại thích viết về quán rượu trước, thế nên bây giờ quay ngược lại đi ăn nhé.

Nakamuraya cafe, đây là 1 địa điểm mà tôi gọi là … tricky nhất trong chuyến hành trình khám phá này. Tricky là bởi vì, lẽ ra chúng tôi đã không tìm ra địa điểm này, nếu không có một chút… may mắn, kèm theo cơn đói cồn cào.

Tiệm Nakamuraya cafe này xuất hiện trong cuốn 1Q84, trong một đoạn hội thoại giữa nhân vật chính Tengo và nhân vật Komatsu. Komatsu đã sắp xếp cho Tengo gặp nhân vật cô bé Fuka-Eri vào lúc 6h tối để cho một cuộc nói chuyện dài.

Theo như chỉ dẫn trên các blog thì Nakamuraya cafe cũng nằm ở khu Shinjuku, và gần với nhà sách Kinokuniya. Nhà sách Kinokuniya ở Shinjuku cũng có xuất hiện trong cuốn 1Q84, và nơi đây thậm chí còn là nơi mà Murakami đã khởi nghiệp sự nghiệp viết lách của ông bằng việc đến mua 1 cây bút máy Sailor và 1 tập giấy viết để viết bản thảo truyện ngắn đầu tay.

Hình chụp trước của nhà sách Kinokuniya. Sưu tầm từ: https://randomwire.com/murakamis-tokyo-part-3/

Trở lại với Nakamuraya cafe, thì khi tôi đi theo chỉ dẫn của Google map, tôi đã tìm đến được khu vực đó, nhưng đi qua đi lại mà vẫn không thể xác định được cái quán cafe đó nằm ở chỗ nào. Xem lại các bài review trên blog thì có chụp hình 1 toà nhà mà theo đó thì quán nằm ở tầng 6. Chúng tôi tìm thấy toà nhà đó, nhưng vấn đề là, không có quán Nakamuraya cafe nào ở tầng 6 cả. Mà ở tầng 6 là 1 nhà hàng đồ nướng tên hoàn toàn khác. Dò hết danh sách các quán trong nhà hàng, cũng không thấy có tên Nakamuraya. Tôi bắt đầu hoang mang và nghĩ hay là quán đã đổi địa điểm đi chỗ khác? Google thì vẫn không cho ra được thông tin gì hơn. Quá mệt và đói rồi. Chúng tôi bảo nhau là thôi kiếm quán nào đó ăn đại vậy. Tôi nhìn lại 1 lần nữa vào danh sách các quán trong toà nhà thì thấy có 1 quán ăn càri ở tầng B2 tên là Manna. Ok thôi xuống đó đại vậy.

Trước cửa Manna cafe

Trước cửa Manna cafe

Và thật bất ngờ, khi xuống đến B2, trước mắt chúng tôi chính là quán… Nakamuraya cafe. Vâng, quán Nakamuraya cafe chính là Mana. Vội vàng bước vào, nhìn kỹ thực đơn, tôi thấy có món Nakamuraya curry đặc biệt. Vậy là chắc chắn quán này rồi. Vì Nakamuraya vốn nổi tiếng là nhà hàng đầu tiên mang cari Ấn đến Tokyo. Đồng thời trang phục của nhân viên và lối bày trí cũng giống hệt trong tấm hình trên các blog.

Bìa thực đơn của Manna. Chữ Nakamuraya cafe ở bên dưới.

Bìa thực đơn của Manna. Chữ Nakamuraya ở bên dưới.

Nana-3

Một góc không gian và cách bày trí của quán.

Tôi không ngần ngại gọi ngay 1 set cơm cari đặc biệt và nhân tiện hỏi thăm cô phục vụ là có phải đây là quán mới, còn quán trên lầu 6 là chuyển xuống đây không. Khổ nỗi các bạn cũng biết đấy, người Nhật rất hạn chế tiếng Anh nên họ chỉ có thể nghe và nói những thông tin đơn giản. Nhưng tôi phần nào cũng đã khẳng định được đây chính là quán mà mình tìm rồi.

Set cơm khá là đơn giản và đồ ăn hơi ít so với tôi. Nhưng đồ ăn thật sự rất ngon. Tôi gọi một ly bia tươi Kirin đi kèm theo set. Bia hơi đắng một chút. Thế là cuối cùng thì tôi cũng đã may mắn tìm được quán này. Nếu lúc đó mà chúng tôi bỏ đi chỗ khác, hay lên lầu 6 vào nhà hàng đồ nướng thì chắc chắn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy Nakamuraya cafe ở tầng B2 đâu.

Set cơm cari đặc biệt lựa chọn 2 món. Tôi chọn cari kiểu Nakamuraya và cari rau củ.

Set cơm cari đặc biệt lựa chọn 2 món. Tôi chọn cari kiểu Nakamuraya và cari rau củ.

Cơm đã ăn, rượu đã uống, tôi còn 1 địa điểm cuối cùng của chuyến hành trình, sẽ viết tiếp cho các bạn đọc vào blog sau nhé. Vì blog cũng dài rồi, đọc dài quá ngán lắm :)).

Buổi sáng.

Đọc bài thơ này mình nhớ đến những buổi sáng ngồi Era vào những ngày cuối năm. Trời hơi se se lạnh, nắng chiếu qua những tán cây ngoài đường Trần Quốc Thảo. Cafe ngọt và thuốc lá thơm… Những buổi sáng chầm chậm, nhẹ nhàng, không vội vã.

Buổi sáng – Phan Ngọc Thường Đoan

Những gương mặt người
Quen và không quen
Những giọt cà phê muôn đời đen nhánh
Tiếng chim khua vỡ buổi sáng lạnh
Gõ thức mặt trời
Em ngồi một mình
Khuấy loãng thời gian
Buổi sáng muốn gọi anh
Nắng nói lời mê ngủ
Gió se lạnh chối từ
Quàng nỗi nhớ chạy quanh chiếc bàn nhỏ

Bản giao hưởng đêm qua còn phảng phất trên phím dương cầm
Người đã vội quên cung bậc cuối
Nụ hôn nửa vời
Trái tim không cửa
Ai hờ hững xéo lên lá cỏ

Buổi sáng ngồi một mình
Không quen những nụ cười lạ
Em đậm đặc với nắng thu mưa hạ
Tan cùng tàn đông
Lòng bàng hoàng luyến tiếc níu vạt áo xuân
Đã chậm mất nửa mùa cuối cùng

Khói thuốc cay và cà phê đắng
Cơn đau màu men ngà
Buổi sáng ngồi một mình
Uống cạn kiệt
lạ
quen!

Tạm biệt nhé, Zuiko!

Đây là tấm hình nằm trong cuộn film cuối cùng tôi chụp bằng bộ máy Olympus yêu quý: body OM2-n MD & ống kính Zuiko 35 f2 MC.

 

mùa hè chiều thẳng đứng

mùa hè chiều thẳng đứng – film Kodak Gold 200

Trong số tất cả những loại máy film 35mm mà tôi từng sở hữu, thì bộ Olympus này là tôi thích sử dụng nhất. Phần tính tiện lợi dễ sử dụng, phần vì đa số sau khi chụp tráng scan ra đều có hình đẹp ưng ý, và tuyệt đối ổn định, chưa hỏng hóc bao giờ.

Body Olympus thì có lẽ không cần phải nói nhiều, khi mà rất nhiều trang đánh giá thiết bị đã xếp dòng OM của Olympus vào trong số những body máy film đáng sở hữu nhất. Bởi những đặc điểm: gọn nhẹ, thiết kế đẹp, thân thiện với người sử dụng và nhất là có hệ thống đo sáng TTL (through the lens – qua ống kính) rất ổn định, chính xác. Hệ thống đo sáng TTL trên dòng OM của Olympus bắt đầu từ OM-2 được Olympus quảng bá là hệ thống đo sáng trực tiếp nguồn sáng đi qua ống kính đầu tiên cho máy film 35mm trên thế giới.

Và quả thật từ lúc chụp với body OM2-n, chưa cuộn film nào của tôi bị đo sáng sai cả.

Ngoài việc sở hữu 1 body đầy đủ tính năng và đáng tin cậy, gọn nhẹ, đẹp đẽ như vậy, thì mục đích của đa số người chơi khi đến với Olympus là bởi vì cái danh tiếng: ‘Leica Châu Á’.

Thật ra cái danh tiếng này cũng chẳng biết xuất phát từ đâu, hay do các bác mê đắm Olympus ở Việt Nam đồn thổi mà thành. Tuy nhiên 1 thực tế đã được chứng minh đó là, các ống kính với tên gọi Zuiko của Olympus thật sự rất đáng chơi, đáng chụp.

Để có thể so sánh với Leica thì có lẽ là một chuyện tiếu lâm xa vời, nhưng trước hết đa số các ống kính Zuiko của Olympus được thiết kế nhỏ gọn, tinh xảo, một đặc điểm mà đa số các ống kính đến từ các hãng khác của Nhật đều không có.

Thêm nữa, chất lượng quang học và hình ảnh từ các ống kính thuộc dòng Zuiko này đều từ khá tốt cho đến rất tốt, tuỳ vào đời ống kính, series sản xuất và loại ống kính.

Tôi đã may mắn được trải nghiệm kha khá các ống Zuiko bao gồm: 55mm f1.2 G.Zuiko, 50 f1.4 MC, 28mm f2.8 MC, 28mm f2 MC, 135 f2.8 MC và 35 f2 MC.

Và ống kính cuối cùng mà tôi giữ lại cùng với body OM2-n là 35 f2 MC. Lý do là bởi, tiêu cự 35mm là tiêu cự vàng: không rộng quá, không hẹp quá, bao phủ từ các thể loại ảnh từ đường phố cho đến nhân vật, từ toàn cảnh cho đến đặc tả.

Bạn muốn mở khẩu xoá phông & bokeh lung linh: hãy chụp ở f2, dof rất đẹp, mịn màng, bokeh mượt mà, lung linh. Bạn muốn nét tất cả toàn cảnh và nổi khối? Hãy khép khẩu ở f5.6, chi tiết sẽ được thể hiện đầy đủ.

Và cái điều cuối cùng mà tôi muốn nói về Zuiko, sau một khoảng thời gian trải nghiệm chưa gọi là đủ lắm nhưng đã phải chia tay, đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận được, chất ảnh riêng biệt của dòng ống kính này.

ở công viên

ở công viên – film Fuji 100

Đó là sự mềm mại. Ống kính Zuiko nét không căng, cứng như Carl Zeiss. Màu và tương phản cũng không sắc và rực rỡ. Nhưng chính sự mềm mại, uyển chuyển nhẹ nhàng, như chính cái tên Zuiko, là cái khiến nhiều người chơi phải mềm lòng, lưu luyến. Một chất ảnh rất đặc trưng và đặc biệt, của riêng những người nghệ nhân làm ống kính đến từ xứ sở hoa anh đào.

Phải nói rằng dù sao tôi cũng đã có đủ may mắn, để chụp được rất nhiều thứ với bộ máy nói trên, và trong một lần chụp 1 cuộn film rồi mang sang 1 lab nổi tiếng nhất Bangkok để tráng scan, tôi mới phát hiện ra chất ảnh đặc trưng đó của ống kính Zuiko.

Và như thế, với một người chơi film nghiệp dư như tôi, cũng đủ mãn nguyện rồi.

Tạm biệt nhé, Zuiko.

Tôi nói gì khi nói về chạy bộ.

Trước hết là tôi phải xin phép bác Haruki Murakami vì mượn tựa đề cuốn sách của bác để viết entry này.

Và thứ nữa là, tôi xin khẳng định mình không phải một chuyên gia về chạy bộ hay là fan nhiệt thành của môn thể thao này như bác Murakami để dám ‘chém gió’ này kia.

Tôi chỉ muốn kể câu chuyện của riêng mình,, về việc chạy bộ.

Tôi vẫn còn nhớ, hồi học cấp 3 và lên Cao Đẳng, chạy bền là phần bắt buộc trong giáo trình của môn thể dục và đó là phần mà tôi sợ nhất. Hiển nhiên là bởi thể trạng yếu kém. Tôi cũng không tập luyện thể thao gì quá nhiều ngoài việc chơi bóng rổ cho vui. Tôi vẫn nhớ lần chạy kinh khủng nhất đó là thầy thể dục bắt cả lớp Cao Đẳng phải hoàn thành bài kiểm tra chạy hết 1 vòng trường đua Phú Thọ. Nam thì phải 1 vòng, nữ thì nửa vòng. Lần đó tôi chạy mới nửa đường mà xây xẩm mặt mày, tim đập loạn xạ, nửa đường còn lại thì tưởng chừng chấp nhận rớt vì không thể nào chạy nổi. Về đến đích thì cứ tưởng như mình sắp ngất xỉu đến nơi. Thật là xấu hổ. Xấu hổ vậy nhưng rồi tôi cũng kệ, vì nghĩ có bao giờ mình cần thể lực để chạy hết 1 vòng cái trường đua ngựa đó để làm gì đâu. Mình đâu phải là ngựa.

Thời gian qua đi, có vài lần tôi cũng quyết tâm tập thể thao lại, và chọn chạy bộ (vì nó đơn giản và ít tốn kém nhất). Nhưng lần nào cũng chỉ chạy được chưa hết 1 vòng công viên Lê Văn Tám là đã thấy quá oải, khi mà những triệu chứng như hoa mắt, ù tai, nhức đầu liên tục quay trở lại ám ảnh. Tôi nghĩ tại sao phải tự hành xác mình như vậy làm gì.

Thế là cuối cùng tôi thấy mình ‘sợ’ chạy bền.

Cho đến khi tôi đọc cuốn sách của bác Murakami với tiêu đề như trên. Bác viết về việc chạy bộ 1 cách say mê và cuốn hút, và rất nghiêm túc hệt như sự nghiệp văn chương của bác vậy. Cuốn sách quả là có khả năng truyền cảm hứng. Tuy nhiên, với tôi, nó chỉ dừng lại ở việc đọc biết vậy chứ tôi không có ý định sẽ áp dụng hay thực hành gì hết cả.

Rồi sang đầu năm nay, với quyết tâm cao cải thiện cái vóc dáng gầy còm của mình, tôi đóng tiền cả năm đi tập gym. Vì đóng tiền, nên tôi siêng tập lắm :D. Một tuần đều đặn 4 buổi, trong đó tôi dành 2 buổi cho việc tập chạy trên máy. Ban đầu cũng chỉ định là chạy để vận động cơ thể, ra mồ hôi xả stress, rồi từ từ nâng cao sức bền chứ cũng không có tiêu chí gì cụ thể. Đều đặn 1 buổi tôi chạy khoảng 15 phút, trung bình được 1,5km.

Nhưng vô tình, tháng 04 này công ty tôi lại tổ chức 1 buổi chạy bộ với cái tên VNG Fun Run. Mục đích của sự kiện này là nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 10 năm của công ty và quyên góp cho quỹ từ thiện ‘Ước mơ của Thuý’. Và tôi nghĩ, tại sao mình không tham gia nhỉ? Nghĩ là thế, nhưng khi biết được thông tin tổng chiều dài đường chạy lên đến gần … 10km, và không hề chia ra từng cấp độ (như kiểu cuộc thi ‘Chinh phục cầu Phú Mỹ’) thì tôi nghĩ, thôi rồi, 10km thì chắc mình dẹp quá. Sức mình hàng tuần chỉ chạy có hơn 1km mà còn hộc hơi nói chi cuộc chạy này … gấp 10 lần như vậy.

Nhưng tôi lại nghĩ, bây giờ mình vẫn còn gần 1 tháng để tập luyện, và biết đâu mình có thể thay đổi điều gì đó. Nếu tập thấy không ổn thì vẫn có thể không tham gia cơ mà. Vậy là tôi lên kế hoạch tập. Bắt đầu bằng việc nâng cao dần khối lượng chạy hàng tuần. Từ 1,5km lên đến 2km, thấy sức mình vẫn còn, nâng lên 2,5km rồi cuối cùng là 3km vào sát ngày đăng ký tham gia Fun Run. Đồng thời, để nâng cao sức bền, tôi tập leo cầu thang mỗi sáng đi làm ở công ty. Thay vì đi thang máy 1 lèo lên tầng 15, ban đầu tôi dừng ở tầng 10 rồi leo thang bộ lên, vác theo cái balo laptop gần 3kg. Từ từ nâng lên tầng 8 rồi tầng 7… Nói chung là leo xong thì lên cty mất hơn 5 phút ngồi lau mồ hôi các kiểu :D.

Cuối cùng thì cũng đến ngày đăng ký tham gia. Tôi dành 1 buổi ngồi chọn lựa kỹ những bài nhạc để đưa vào cái iPod shuffle. Nhạc là thứ thiết yếu đối với tôi khi chạy. Không có nhạc thì chắc chắn tôi thua. Murakami chọn Jazz & Classic Rock để nghe khi chạy. Tôi thì chọn bất cứ thứ gì khiến tôi cảm thấy ‘sung’ và hưng phấn, nhưng chủ yếu cũng là Alternative Rock/Indie Rock/Britpop/Pop thôi.

Trang phục cho việc chạy thì quan trọng nhất là đôi giày, lý tưởng thì là giày chạy bộ của các hãng nổi tiếng thiết kế có khí động học, đế đệm không khí gì đó các kiểu. Không thì 1 đôi giày tốt với các tiêu chí: mang vừa chân, không chật không rộng, êm ái và nhẹ vì bạn tưởng tượng bàn chân của mình sẽ liên tục tiếp xúc với thứ đó suốt hơn vài tiếng đồng hồ trên mặt đường nhựa nóng. Không thể dừng giữa đường với đôi chân sưng phồng rộp được.

Và cuối cùng là đến ngày chạy. Đêm hôm trước tôi ngủ vừa đủ giấc. Thức dậy sớm để khởi động, bảo đảm các cơ chân, tay, vai được căng đầy đủ. Tôi ăn 1-2 quả chuối tiêu, chuối là thứ cung cấp và duy trì năng lượng tốt cho việc tập luyện lẫn vận động ở cường độ cao. Uống nước vừa đủ. Không nên uống quá nhiều sẽ thải nhiều hơn.

Sau khi đã chuẩn bị kỹ càng, thì bước cuối cùng trước khi chạy đó là: lên 1 chiến thuật phù hợp cho việc chinh phục đích đến. Hãy xem kỹ bản đồ đường chạy: xem những đoạn đường cong, đường thẳng, nếu được thì Google street view để xem đường nào nhiều cây, đường nào phải hứng nắng nhiều… Và từ đó lên 1 chiến thuật cho riêng mình. Chiến thuật của tôi là: trong 4km đầu xuất phát và duy trì tốc độ chậm, chủ yếu nằm ở nhóm giữa. Cố gắng duy trì cho cơ thể quen với việc vận động trong 1 khoảng thời gian là rất quan trọng. Tạo sức bền để làm nền cho suốt hành trình của mình. 4km đầu thường mọi người sung sức nhất nên sẽ nhanh chóng chia làm 2 nhóm: nhóm sung nhất dẫn đầu và nhóm yếu hơn theo sau. Nhưng sang đến 4km tiếp theo thì sự phân hoá sẽ rõ rệt hơn: nhóm đầu sẽ tách ra 1 nhóm những cá nhân xuất sắc duy trì tốc độ để về đích đầu tiên. Nhóm thứ 2 bắt đầu tuột lại và trở thành nhóm giữa. Một số nhân tố của nhóm ‘yếu’ sẽ bứt phá nỗ lực để gia nhập vào nhóm giữa. Và nhóm yếu thật sự sẽ ở sau cùng. Mục tiêu của tôi trong 4km tiếp này là nâng dần tốc độ ở 1 số đoạn nắng nóng (vì nóng nên phải cố mà chạy cho qua) và chấp nhận đi bộ khi mệt ở 1 số đoạn đường mát mẻ :D. Chiến thuật đi kết hợp chạy này sẽ giúp tôi duy trì ở nhóm giữa và nếu may mắn có thể bứt lên gia nhập nhóm đầu (trong trường hợp nhiều bạn rớt xuống).

2km cuối cùng là việc dồn sức để về đích. Lúc này cơ thể đã rất mệt rồi nên sẽ cố gắng duy trì chạy thật chậm ở 1,5km đầu và dồn sức bứt tốc ở 500m cuối cùng để về đích.

Tôi biết từ việc luyện tập chạy trên máy trong phòng gym có máy lạnh mát mẻ với việc ra ngoài thực tế đường nhựa nắng nóng chạy cùng xe cộ là rất khác nhau. Nên cách duy nhất để hoàn thành hành trình là tuân thủ theo chiến thuật mình đã đặt ra.

Và thực tế là… tôi làm đúng với chiến thuật đó. Kết quả: về đích trong nhóm 100 người đầu tiên :D. Quả thật đây là điều mà bản thân tôi cũng khó nghĩ đến cho dù đã tự động viên bản thân và lạc quan nhiều trước khi chạy. Tôi còn nhớ, ở khoảng 500m cuối, khi tôi nhìn thấy bên kia mảnh đất qua hàng rào là đích đến, và iPod shuffle đến bản Canon In D phối lại Rock, tôi đã dồn sức guồng chân chạy, cho dù lúc đó cũng chẳng có ai phía trước hay ai bám theo tôi phía sau. Nhưng tôi vẫn muốn thực hiện đúng những gì mình đã đề ra. Và dù sức tàn chỉ chạy được khoảng hơn 300m để gần chạm đến chướng ngại vật cuối cùng, nhưng ngay khoảnh khắc chạy ấy tôi biết 1 điều: mình đã thành công, mình đã làm được rồi.

Sau đó khi xem lại app Moves đo tổng chiều dài lẫn thời gian hoàn thành thì tôi thấy mình đã duy trì tốc độ trung bình 7km/h (thua 1 nửa so với người về đích đầu tiên là 15km/h). Đúng với thực tế tôi vẫn tập luyện ở trên máy (dao động từ 6,8-7,2km/h). Vậy thì việc tập luyện là có ích đấy chứ đâu phải không?

Và cuối cùng, như tiêu chí của buổi chạy là ‘Fun Run’, tôi đã thấy vui, niềm vui từ việc chạy, từ việc không bỏ cuộc, không nản chí, không đuối sức và nhất là vui vì từ nay không còn sợ chạy bền nữa :).

 

Song of The Day: into the storm eye, there is only calmness.

Một năm, tính theo lịch âm, lại sắp hết.

Càng về những ngày cuối năm, khi những cơn gió hanh hao lạnh len lỏi vào trong thành phố, là lòng tôi lại cảm thấy không yên ả.

Ngồi nghĩ lại, từ mấy năm nay, chưa năm nao tôi đón 1 cái Tết thật trọn vẹn hoàn toàn. Năm thì kinh tế khó khăn, tài chính túng thiếu, năm thì tim tan nát, bị bỏ rơi. Năm thì quan hệ lục đục, không phương hướng.

Những ký ức của cái Tết đen tối nhất, 2010, thật sự vẫn chưa thôi ám ảnh tôi… Tôi không muốn nhớ đến nhưng có những thứ không chỉ đơn giản là muốn mà được…

Tôi không biết mình sẽ còn nghe bao nhiêu lần bài hát này nữa…

 

Mọi chuyện là thế đó. Tôi đâu có ngờ…

Chuyện của ngày hôm qua, tan như giấc mơ. 

Còn đâu, cơn gió trên sông bạc

Buồm kia cũng đã buông chùng

Không thấy chân trời

Đâu là đường về…? 

Giấc mơ kia đã vỡ. 

ẢO TƯỞNG RỰC RỠ

Và trong tôi, CƠN BÃO ĐANG ĐẾN GẦN

Sóng gió cũng đang kêu gào. 

Gọi tên tôi. Chúng sẽ bắt lấy tôi. 

Dìm thân tôi tận đáy sâu

Không thấy chân trời

Không còn đường về… 

Nhưng đúng như người ta nói, cách duy nhất để chiến thắng 1 cơn bão, là đi thẳng vào trong tâm của nó. Ở nơi đó, sức gió bằng không.

Tôi đang đi xuyên qua 1 cơn bão. Cơn bão của những ám ảnh quá khứ. Đi và tự nhủ, ‘thì cứ đi thôi’…

Tôi mong cho năm sắp đến, tâm mình thật tịnh, để sống thật tốt, hoàn thành những điều đã đặt ra và để cho họ biết rằng, tôi không dễ gì ngã gục.

Ai sống mà chẳng cần có chút niềm tin? Dù cho đôi khi, niềm tin đó chỉ là ảo tưởng.

P.S: Cho đến lúc này với tôi nhạc phim “Dành Cho Tháng Sáu” & “1735Km” là 2 album nhạc phim mà tôi thích nhất của phim Việt Nam.

N o v e m b e r – On-The-Go

On The Go – ‘November’

Đã từ tháng 11 tôi không viết gì cả.

Đã từ tháng 11, tôi không viết chút gì về nhạc nhẽo.

Suốt khoảng thời gian đó tôi vẫn nghe, nhưng có lẽ, tôi chỉ nghe thấy âm và thanh chứ không hề nghe được nhạc.

Tôi nhớ ngay lần đầu gặp ở Era, Bột đã nói rằng: “âm nhạc thực chất chỉ là âm thanh, những âm thanh do con người tạo ra đó, khi đi vào đầu óc, trái tim, tâm hồn bạn thì mới thành âm nhạc.”

Quả thật là sau 1 khoảng thời gian chiêm nghiệm, tôi thấy điều này ngày càng đúng.

Hằng ngày, tôi đi làm vẫn nhét headphone vào tai để nghe. Nhưng chủ yếu là tôi nghe để … tránh tiếng ồn đường phố, xe cộ. Và nghe cũng chỉ quanh đi quẩn lại từng ấy bài quen thuộc.

Hằng ngày, ở văn phòng, tôi vẫn nhét headphone vào tai để nghe. Nhưng cũng thế, chủ yếu là để tôi relax và tránh tiếng ồn ào trong văn phòng.

Vậy thì là tôi đang nghe âm thanh, chứ không phải âm nhạc.

Với âm nhạc, tôi khá cực đoan. Cực đoan ở đây không phải là cầu kỳ. Tôi không cần dàn âm thanh hi-end, không cần có rượu vang hay người đẹp thì mới nghe nhạc thấy hay. Cực đoan của tôi là nghe nhạc phải có cảm xúc. Tôi phải thấy tim mình chợt rung lên, đập theo nhịp của tiếng đàn, lời hát, nhịp trống, âm bass. Tôi phải chợt bỏ xuống cuốn sách hay ngừng làm một việc gì đó mà mò lại xem, bài gì hay nhỉ, rồi chăm chú lắng nghe hết cả album.

Và âm nhạc phải khiến tôi muốn nhắm mắt lại, tưởng tượng ra mình đang ở trong thế giới nơi mình muốn được thuộc về, có khổ đau, có yên bình nhưng tự do và hạnh phúc.

Tôi có đòi hỏi cao siêu quá không nhỉ? Chắc là có. Vậy nên tôi cực đoan với cái thứ tôi yêu là thế đó.

Tháng 11, bản nhạc cuối cùng mà tôi nghe, khiến tim tôi rung động, nằm trong cái post trước bài này. Bản nhạc khiến tôi buồn cả tháng trời.

Còn bây giờ, đây có lẽ sẽ là album khiến tôi tiếp tục chìm trong cái thế giới lẫn lộn buồn vui, thực ảo xoá nhoà ấy 1 thời gian không ngắn nữa, là: “November” của On-The-Go.

Vâng, trùng hợp quá nhỉ? Sao cứ loanh quanh cái tháng 11 không chịu đi hoài vậy? Nào tôi có muốn đâu cơ chứ.

Nhìn cái hình cover, thấy cái tên, là muốn nghe rồi. Và đã nghe rồi, thì … không dứt ra được nữa.

Tôi hút 1 điếu. Lần đầu tiên tôi hút ở nhà, trước cửa balcony phòng mình. Và tôi uống nốt chỗ whiskey đã rót ra trước đó.

Tối nay đủ thứ chuyện chả ra sao ập đến trên đầu. Tôi muốn yên nhưng thiên hạ chưa cho phép. Vậy nên tôi uống rượu, hút weed và nghe nhạc. Tôi có được phép SỐNG-CHO-RIÊNG-MÌNH-MỘT-TÍ không nhỉ, thưa thiên hạ??? Hay là lại chỉ trích tiếp là tôi thì ích kỷ quá, chỉ biết sống cho riêng mình???

À quên, không nên cay cú nhỉ, tôi đang muốn nói về album nhạc tôi đang được thưởng thức bây giờ cơ mà.

Tuyệt vời! Âm thanh đẹp đẽ. Trầm bổng. Du dương.

Đúng là cái gì mà ta không mong đợi, thì thường đều rất đáng ngạc nhiên.

3 bản nhạc cuối album, từ ‘Glow’ trở đi, quả thật là TUYỆT!!!

Nhắm mắt lại. Để cho thân mình, tâm trí mình, lòng mình, trôi nhẹ nhàng nổi lên trên lớp thanh âm đó, là 1 trải nghiệm thật vô đối.

Bản ‘Not Enough Hope’, với đoạn điệp khúc cứ lặp đi lặp lại:

“Leave me alone. Leave me alone. Leave me alone…”

Vâng, xin cho tôi được yên thân 1 mình đi ạ. Tôi xin đấy, thiên hạ ơi!!!

Hay tôi phải hứa, là tôi sẽ ‘ngoan’, như Ngọc Trinh tuyên bố trên báo chí, thì thiên hạ mới tạm tha, để tôi được yên thân đây nhỉ???

À xin lỗi, tôi lại lan man linh tinh rồi, quay trở về với chủ đề âm nhạc nhé.

Sau “Not Enough Hope”, quả thật giờ tôi chả có chút hy vọng nào đâu, nhưng tôi vẫn nghe tiếp, thì “Into The Wild” là ca khúc tuyệt nhất để kết lại 1 album thế này.

Into The Wild”, tựa đề bài hát không thể không khiến tôi nhớ về chàng trai trẻ McCandless và chuyến hành trình từ bỏ cuộc sống để hoà vào thiên nhiên thật sự.

Và khi đoạn guitar solo cất tiếng lên, cùng lời hát của “Into The Wild”, tôi chỉ nhắm mắt lại, và mọi thứ như đã chuẩn bị sẵn trước từ lâu, tràn trề tuôn ra không ngăn được…

 

Và với tôi, tôi thấy mình vẫn còn đang kẹt lại,

ở trong chính ký ức và những nỗi đau không thể nói ra lời,

ở trong chính tháng Mười Một tưởng chừng đã thật xa. 

… 

Một chút về artist On-The-Go 

Screen Shot 2012-12-27 at 1.24.05 PM

Một ngày cuối năm 2012.