Trải nghiệm Tokyo: cảm hứng từ Haruki Murakami – phần 2 & kết.

Ngày cuối ở Tokyo, mưa vẫn tiếp tục từ chiều kéo đến tối. Còn nhiều thứ cần mua sắm trước khi về nên đi qua mấy trung tâm thương mại và siêu thị, nhưng không may là ở Nhật siêu thị đóng cửa lúc…8h. Thế là đành phải qua nhà sách Kinokuniya để mua một vài món quà lưu niệm.

Sau khi ăn tối, cơn mưa cũng vừa dứt, chúng tôi nhắm đến hướng đi về địa điểm cuối cùng trong chuyến đi này: quán Denny’s ở Shinjuku.

Denny’s là một thương hiệu chuỗi nhà hàng phục vụ đồ ăn suốt 24h có mặt ở nhiều quốc gia trong đó có Nhật Bản. Denny’s từng xuất hiện trong tác phẩm “After Dark” của Murakami nhưng không rõ địa điểm chính xác nào. Trong tập truyện đó nhân vật nữ chính đã ngồi trong quán ăn salad gà và đọc sách ban đêm.

Đi từ trung tâm Shinjuku đến Denny’s là hành trình đi qua khá nhiều những khách sạn lớn 5 sao, và hướng đường này thì ít người qua lại, không đông đúc như khu trung tâm. Trời sau cơn mưa mát mẻ, dễ chịu, không khí thoáng sạch và đường không đông đúc khiến cho chuyến đi bộ khá là thoải mái.

Denny

Tiệm Denny’s nhìn từ dưới đất lên. Chụp bằng film khổ vuông 120.

Cuối cùng thì cũng đến Denny’s. Tiệm nằm ở trên tầng, phía dưới là showroom của MiniCooper (mình cũng rất thích MiniCooper). Bước lên cầu thang, đẩy cửa kính bước vào, không gian bên trong tràn ngập ánh đèn vàng ấm áp và yên tĩnh. Một cảm giác ban đầu rất là dễ chịu.

Tôi vào quán lúc này đã hơn 10h30. Quán không đông. Chọn bàn ở băng ghế dài, tựa lưng vào vách kính phía sau. Tuy là nhà hàng thương hiệu của phương Tây, nhưng Denny’s đã ‘Nhật hoá’ toàn bộ thực đơn (chỉ tiếng Nhật không có tiếng Anh). Do đã ăn tối rồi nên tôi chỉ gọi 1 ly kem đào (mùa này đang là mùa đào ở Nhật) và 1 ly vang trắng house wine.

Trong lúc đợi kem, tôi bắt đầu quan sát quán. Đồ nội thất và mọi thứ còn khá mới, sạch sẽ, chẳng lẽ quán này mở chưa lâu, hay là người Nhật họ dọn dẹp lau chùi quá sạch?

Denny-4

Góc trái nhìn từ chỗ tôi ngồi.

Denny-5

Góc phải nhìn từ chỗ tôi ngồi

Quán mở nhạc Jazz nhè nhẹ, đây đúng là không gian lý tưởng để làm việc hay đọc sách buổi tối muộn. Xung quanh tôi chỉ thấy người ngồi đọc sách một mình, hay làm việc cùng nhau. Một lúc sau ly kem của tôi được mang ra. Kem ngon tuyệt. Đào tươi và ngọt mát. Vang trắng chua nhẹ và dễ uống. Tôi tận hưởng ly kem đến khi hết sạch.

Denny-1

Ly kem đào ngon tuyệt.

Sau đó là ngồi nhẩn nha hút thuốc và uống vang trắng. Cảm giác lúc ngồi ở Denny’s có lẽ là dễ chịu nhất trong cả chuyến hành trình ngắn ngủi của tôi. Dù cho lần này đi chẳng có gì khiến tôi thấy khó chịu cả.

Tôi cứ ngồi thế, đến nửa đêm. Đồng hồ chạm mốc 12h đêm. Ở trong truyện, nhân vật ngồi đến 3h sáng thì phải. À, tôi đã chủ đích tìm món salad gà, nhưng tiệm không có món đó, chỉ có Caesar salad và vài loại khác. Lạ phải không? Salad gà vốn là món rất tiêu biểu ở các tiệm ăn Tây thế này mà.

Vừa ngồi tôi ngẫm nghĩ về Murakami. Người ta vẫn nhận định rằng Murakami là nhà văn hậu hiện đại, và chính Murakami cũng từng nói rằng ông bị ảnh hưởng của văn hoá phương Tây nhiều hơn văn hoá Nhật trong sáng tác của mình. Tuy nhiên tôi nhận thấy rằng truyện của ông vẫn rõ ràng truyền tải một tinh thần Nhật. Tinh thần của người Nhật trong thế giới hiện tại. Người Nhật vốn khép kín và lặng lẽ, nhân vật của Murakami thì luôn có cuộc sống ẩn mình, đơn độc, cô đơn. Những người Nhật mà tôi gặp trong chuyến đi, đa số đều giao tiếp tự nhiên, thoải mái, thậm chí là nhiệt tình, chu đáo hết mức. Nhưng tôi mơ hồ tự hỏi, ẩn sâu bên dưới, cuộc sống của họ ra sao. Liệu có 1 thế giới song song nào đó cũng đang chuyển động cùng lúc với thế giới mà tôi đang ngồi ở trong tiệm Denny’s hay không? Những nhân vật của Murakami đều luôn đi tìm, luôn chiến đấu để tìm thấy chính họ, tìm thấy tình yêu và niềm tin, trong một thế giới đầy hỗn độn và đa chiều.

Denny-3

Nhìn qua lớp kính xuống con đường phía dưới quán.

Còn chuyến đi này của tôi, là chuyến đi để tôi tìm lại, tìm lại chứ không phải tìm thấy. Tìm lại tình yêu với âm nhạc, với những đam mê của thời thanh niên. Để được mắt thấy tai nghe những điều trước giờ mình chỉ được xem, được đọc, chỉ được hình dung hay tưởng tượng nên. Cuối ngày, khi ngồi ở Denny’s có lẽ tôi đã tìm được cảm giác bình yên và dễ chịu ở trong lòng. Điều mà tôi đã không có được ở những chuyến đi khác. Nhất định tôi sẽ còn quay lại Nhật. Tôi sẽ đến công viên Koenji, ngồi trên cầu trượt và nhìn lên trời trong một đêm sáng trăng. Và đến khu vườn Tonogayato ngồi đọc một cuốn sách dưới những tán cây.

Sài Gòn, 30 tháng 08, 2016.

Thơ Vũ Hoàng Chương

Nhờ đọc những ghi chép của nhà văn Mai Thảo mà tôi mới được biết đến nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Sống hơn 30 tuồi đầu ở Sài Gòn mà giờ mới biết đến người từng được mệnh danh là “Thi Bá” của thơ ca Việt Nam. Tôi tự thấy hổ thẹn với những hiểu biết hạn hẹp của mình.
Một buổi chiều Chủ nhật trời cứ nắng rồi lại mưa. Ai bên hàng xóm tập đàn guitar thùng bập bùng. Tôi ngồi đọc thơ Vũ Hoàng Chương. Không dám nhận mình hiểu hay cảm được bao nhiêu. Chỉ biết là đọc xong cứ ngẩn ngơ cả buổi chiều…

Mộng Dao Đài – Vũ Hoàng Chương – in trong tập thơ “Hoa Đăng” – Văn Hữu Á Châu xuất bản năm 1959

Nắng vàng theo gió vàng lên

Có ai theo gió về trên lầu ngà?

Hương bay thềm quế xa xa

Nghìn thu chị Nguyệt chưa già, ai ơi!

Từ theo Trái Đất giong chơi

Vóc băng sương có đầy vơi ít nhiều

Xót thay, lòng vẫn tiêu điều!

Lửa hành tinh, mấy mùa yêu, đã tàn

Ngọc phai vàng tắt dung nhan

Tương tư lạnh khoá cung Hàn từng đêm

Lệ rơi ướt bẩy màu xiêm

Ngang sông quạ réo càng thêm gợi sầu

Lệ rơi xiêm ướt bẩy màu

Ngang sông quạ réo gợi sầu tương tư

Đêm qua gió vẳng lời thơ

Chiều nay lại một chiều mơ xuống trần

Có ai nặng tấm lòng xuân

Từ khi cõi tục xa dần cõi Tiên?

Có ai lòng nặng thiên duyên

Từ khi bụi xóa đường lên non Bồng?

Có ai tình cũ nặng lòng

Từ khi suối thắm nghẹn giòng Thiên-Thai?

Để cho mộng biếc Dao-Đài

Xe mây rẽ lối trần ai một chiều

Tôi nói gì khi nói về chạy bộ.

Trước hết là tôi phải xin phép bác Haruki Murakami vì mượn tựa đề cuốn sách của bác để viết entry này.

Và thứ nữa là, tôi xin khẳng định mình không phải một chuyên gia về chạy bộ hay là fan nhiệt thành của môn thể thao này như bác Murakami để dám ‘chém gió’ này kia.

Tôi chỉ muốn kể câu chuyện của riêng mình,, về việc chạy bộ.

Tôi vẫn còn nhớ, hồi học cấp 3 và lên Cao Đẳng, chạy bền là phần bắt buộc trong giáo trình của môn thể dục và đó là phần mà tôi sợ nhất. Hiển nhiên là bởi thể trạng yếu kém. Tôi cũng không tập luyện thể thao gì quá nhiều ngoài việc chơi bóng rổ cho vui. Tôi vẫn nhớ lần chạy kinh khủng nhất đó là thầy thể dục bắt cả lớp Cao Đẳng phải hoàn thành bài kiểm tra chạy hết 1 vòng trường đua Phú Thọ. Nam thì phải 1 vòng, nữ thì nửa vòng. Lần đó tôi chạy mới nửa đường mà xây xẩm mặt mày, tim đập loạn xạ, nửa đường còn lại thì tưởng chừng chấp nhận rớt vì không thể nào chạy nổi. Về đến đích thì cứ tưởng như mình sắp ngất xỉu đến nơi. Thật là xấu hổ. Xấu hổ vậy nhưng rồi tôi cũng kệ, vì nghĩ có bao giờ mình cần thể lực để chạy hết 1 vòng cái trường đua ngựa đó để làm gì đâu. Mình đâu phải là ngựa.

Thời gian qua đi, có vài lần tôi cũng quyết tâm tập thể thao lại, và chọn chạy bộ (vì nó đơn giản và ít tốn kém nhất). Nhưng lần nào cũng chỉ chạy được chưa hết 1 vòng công viên Lê Văn Tám là đã thấy quá oải, khi mà những triệu chứng như hoa mắt, ù tai, nhức đầu liên tục quay trở lại ám ảnh. Tôi nghĩ tại sao phải tự hành xác mình như vậy làm gì.

Thế là cuối cùng tôi thấy mình ‘sợ’ chạy bền.

Cho đến khi tôi đọc cuốn sách của bác Murakami với tiêu đề như trên. Bác viết về việc chạy bộ 1 cách say mê và cuốn hút, và rất nghiêm túc hệt như sự nghiệp văn chương của bác vậy. Cuốn sách quả là có khả năng truyền cảm hứng. Tuy nhiên, với tôi, nó chỉ dừng lại ở việc đọc biết vậy chứ tôi không có ý định sẽ áp dụng hay thực hành gì hết cả.

Rồi sang đầu năm nay, với quyết tâm cao cải thiện cái vóc dáng gầy còm của mình, tôi đóng tiền cả năm đi tập gym. Vì đóng tiền, nên tôi siêng tập lắm :D. Một tuần đều đặn 4 buổi, trong đó tôi dành 2 buổi cho việc tập chạy trên máy. Ban đầu cũng chỉ định là chạy để vận động cơ thể, ra mồ hôi xả stress, rồi từ từ nâng cao sức bền chứ cũng không có tiêu chí gì cụ thể. Đều đặn 1 buổi tôi chạy khoảng 15 phút, trung bình được 1,5km.

Nhưng vô tình, tháng 04 này công ty tôi lại tổ chức 1 buổi chạy bộ với cái tên VNG Fun Run. Mục đích của sự kiện này là nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 10 năm của công ty và quyên góp cho quỹ từ thiện ‘Ước mơ của Thuý’. Và tôi nghĩ, tại sao mình không tham gia nhỉ? Nghĩ là thế, nhưng khi biết được thông tin tổng chiều dài đường chạy lên đến gần … 10km, và không hề chia ra từng cấp độ (như kiểu cuộc thi ‘Chinh phục cầu Phú Mỹ’) thì tôi nghĩ, thôi rồi, 10km thì chắc mình dẹp quá. Sức mình hàng tuần chỉ chạy có hơn 1km mà còn hộc hơi nói chi cuộc chạy này … gấp 10 lần như vậy.

Nhưng tôi lại nghĩ, bây giờ mình vẫn còn gần 1 tháng để tập luyện, và biết đâu mình có thể thay đổi điều gì đó. Nếu tập thấy không ổn thì vẫn có thể không tham gia cơ mà. Vậy là tôi lên kế hoạch tập. Bắt đầu bằng việc nâng cao dần khối lượng chạy hàng tuần. Từ 1,5km lên đến 2km, thấy sức mình vẫn còn, nâng lên 2,5km rồi cuối cùng là 3km vào sát ngày đăng ký tham gia Fun Run. Đồng thời, để nâng cao sức bền, tôi tập leo cầu thang mỗi sáng đi làm ở công ty. Thay vì đi thang máy 1 lèo lên tầng 15, ban đầu tôi dừng ở tầng 10 rồi leo thang bộ lên, vác theo cái balo laptop gần 3kg. Từ từ nâng lên tầng 8 rồi tầng 7… Nói chung là leo xong thì lên cty mất hơn 5 phút ngồi lau mồ hôi các kiểu :D.

Cuối cùng thì cũng đến ngày đăng ký tham gia. Tôi dành 1 buổi ngồi chọn lựa kỹ những bài nhạc để đưa vào cái iPod shuffle. Nhạc là thứ thiết yếu đối với tôi khi chạy. Không có nhạc thì chắc chắn tôi thua. Murakami chọn Jazz & Classic Rock để nghe khi chạy. Tôi thì chọn bất cứ thứ gì khiến tôi cảm thấy ‘sung’ và hưng phấn, nhưng chủ yếu cũng là Alternative Rock/Indie Rock/Britpop/Pop thôi.

Trang phục cho việc chạy thì quan trọng nhất là đôi giày, lý tưởng thì là giày chạy bộ của các hãng nổi tiếng thiết kế có khí động học, đế đệm không khí gì đó các kiểu. Không thì 1 đôi giày tốt với các tiêu chí: mang vừa chân, không chật không rộng, êm ái và nhẹ vì bạn tưởng tượng bàn chân của mình sẽ liên tục tiếp xúc với thứ đó suốt hơn vài tiếng đồng hồ trên mặt đường nhựa nóng. Không thể dừng giữa đường với đôi chân sưng phồng rộp được.

Và cuối cùng là đến ngày chạy. Đêm hôm trước tôi ngủ vừa đủ giấc. Thức dậy sớm để khởi động, bảo đảm các cơ chân, tay, vai được căng đầy đủ. Tôi ăn 1-2 quả chuối tiêu, chuối là thứ cung cấp và duy trì năng lượng tốt cho việc tập luyện lẫn vận động ở cường độ cao. Uống nước vừa đủ. Không nên uống quá nhiều sẽ thải nhiều hơn.

Sau khi đã chuẩn bị kỹ càng, thì bước cuối cùng trước khi chạy đó là: lên 1 chiến thuật phù hợp cho việc chinh phục đích đến. Hãy xem kỹ bản đồ đường chạy: xem những đoạn đường cong, đường thẳng, nếu được thì Google street view để xem đường nào nhiều cây, đường nào phải hứng nắng nhiều… Và từ đó lên 1 chiến thuật cho riêng mình. Chiến thuật của tôi là: trong 4km đầu xuất phát và duy trì tốc độ chậm, chủ yếu nằm ở nhóm giữa. Cố gắng duy trì cho cơ thể quen với việc vận động trong 1 khoảng thời gian là rất quan trọng. Tạo sức bền để làm nền cho suốt hành trình của mình. 4km đầu thường mọi người sung sức nhất nên sẽ nhanh chóng chia làm 2 nhóm: nhóm sung nhất dẫn đầu và nhóm yếu hơn theo sau. Nhưng sang đến 4km tiếp theo thì sự phân hoá sẽ rõ rệt hơn: nhóm đầu sẽ tách ra 1 nhóm những cá nhân xuất sắc duy trì tốc độ để về đích đầu tiên. Nhóm thứ 2 bắt đầu tuột lại và trở thành nhóm giữa. Một số nhân tố của nhóm ‘yếu’ sẽ bứt phá nỗ lực để gia nhập vào nhóm giữa. Và nhóm yếu thật sự sẽ ở sau cùng. Mục tiêu của tôi trong 4km tiếp này là nâng dần tốc độ ở 1 số đoạn nắng nóng (vì nóng nên phải cố mà chạy cho qua) và chấp nhận đi bộ khi mệt ở 1 số đoạn đường mát mẻ :D. Chiến thuật đi kết hợp chạy này sẽ giúp tôi duy trì ở nhóm giữa và nếu may mắn có thể bứt lên gia nhập nhóm đầu (trong trường hợp nhiều bạn rớt xuống).

2km cuối cùng là việc dồn sức để về đích. Lúc này cơ thể đã rất mệt rồi nên sẽ cố gắng duy trì chạy thật chậm ở 1,5km đầu và dồn sức bứt tốc ở 500m cuối cùng để về đích.

Tôi biết từ việc luyện tập chạy trên máy trong phòng gym có máy lạnh mát mẻ với việc ra ngoài thực tế đường nhựa nắng nóng chạy cùng xe cộ là rất khác nhau. Nên cách duy nhất để hoàn thành hành trình là tuân thủ theo chiến thuật mình đã đặt ra.

Và thực tế là… tôi làm đúng với chiến thuật đó. Kết quả: về đích trong nhóm 100 người đầu tiên :D. Quả thật đây là điều mà bản thân tôi cũng khó nghĩ đến cho dù đã tự động viên bản thân và lạc quan nhiều trước khi chạy. Tôi còn nhớ, ở khoảng 500m cuối, khi tôi nhìn thấy bên kia mảnh đất qua hàng rào là đích đến, và iPod shuffle đến bản Canon In D phối lại Rock, tôi đã dồn sức guồng chân chạy, cho dù lúc đó cũng chẳng có ai phía trước hay ai bám theo tôi phía sau. Nhưng tôi vẫn muốn thực hiện đúng những gì mình đã đề ra. Và dù sức tàn chỉ chạy được khoảng hơn 300m để gần chạm đến chướng ngại vật cuối cùng, nhưng ngay khoảnh khắc chạy ấy tôi biết 1 điều: mình đã thành công, mình đã làm được rồi.

Sau đó khi xem lại app Moves đo tổng chiều dài lẫn thời gian hoàn thành thì tôi thấy mình đã duy trì tốc độ trung bình 7km/h (thua 1 nửa so với người về đích đầu tiên là 15km/h). Đúng với thực tế tôi vẫn tập luyện ở trên máy (dao động từ 6,8-7,2km/h). Vậy thì việc tập luyện là có ích đấy chứ đâu phải không?

Và cuối cùng, như tiêu chí của buổi chạy là ‘Fun Run’, tôi đã thấy vui, niềm vui từ việc chạy, từ việc không bỏ cuộc, không nản chí, không đuối sức và nhất là vui vì từ nay không còn sợ chạy bền nữa :).

 

Sự lãng mạn của thất bại.

Tôi luôn thích những bộ phim tập trung vào một chủ đề nhất định, khai thác mọi khía cạnh xoay quanh chủ đề đó và giải quyết triệt để vấn đề mà nhà làm phim đã đặt ra.

Năm 2010 tôi thích ‘Up In The Air’.

2011 thì ‘The Social Network

và 2012 là ‘Moneyball‘.

(Bài viết tiết lộ 100% nội dung film. Vui lòng cân nhắc khi đọc tiếp). 

Cả 3 bộ phim, đều là về những đề tài khá khô khan, tưởng chừng như là tẻ nhạt, nhưng khi đi sâu khám phá, và dưới bàn tay của những người đạo diễn, biên kịch tài ba, thì đều trở thành những đề tài thật sự có chiều sâu, thu hút và nhất là để lại cho tôi những dư vị cảm xúc khá dài lâu.

Cả 3 bộ phim đó tôi đã xem ít nhất 3 lần mỗi phim, mà vẫn thấy có cái thú vị không lặp lại.

‘Up In The Air’ & ‘The Social Network’ thì tôi không muốn bàn nữa vì cũng đã lâu rồi, entry này, để theo kịp tính thời sự nóng hổi tôi sẽ nói về ‘Moneyball’.

Trước hết, xin được nói một thông tin gần đây nhất là lễ trao giải Oscar 2012 vừa mới diễn ra, ‘Moneyball’ có mặt trong 6 đề cử: Phim Xuất Sắc Nhất & Nam Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất (cho Brad Pitt), Nam Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất (cho Jonah Hill), Kịch Bản Chuyển Thể Hay Nhất, Dựng Phim & Hoà Âm Xuất Sắc Nhất.

Kết quả: không được giải nào :).

Hệt như ‘Up In The Air’ năm 2010.

Cả 2 phim đều là những phim ‘thua cuộc’. Và theo thông lệ thì, ‘the winners take it all’, báo chí truyền thông lại có dịp ca tụng những người chiến thắng, còn những kẻ thua thì … ai mà quan tâm cơ chứ?

Ngoài sự giống nhau ở vấn đề thua cuộc trong việc tranh giải Oscar năm nay, thì ‘Moneyball‘ & ‘Up In The Air‘ còn giống nhau ở 2 điểm khác nữa:

Một, là phim về cuộc đời của 2 con người … thua cuộc. Vâng, Billy Beane (nhân vật chính của Moneyball – Brad Pitt đóng) & Ryan Bingham (nhân vật chính của ‘Up In The Air’ – Geogre Clooney thủ vai) là 2 kẻ thua cuộc, xét trên một khía cạnh nào đó.

Ryan Bingham thua cuộc trong việc xây dựng một mối quan hệ tình cảm thật sự, nghiêm túc, thua cuộc trong việc muốn ‘đứng vững trên mặt đất’ chứ không phải ‘lửng lơ đâu đó trên bầu trời’.

Còn Billy Beane thì từng thua cuộc với vai trò là 1 cầu thủ bóng chày được đánh giá là thần đồng, là vô cùng tiềm năng, và thua cuộc trong việc đưa đội bóng chày Athletics Oakland chiến thắng ở trận bán kết giải nhà nghề Mỹ năm 2001.

Hai là, cả 2 phim đều dựa trên 2 cuốn sách với cùng tựa đề, chỉ hơi khác nhau ở chỗ, một cuốn là chuyện có thật (‘Moneyball’) còn cuốn kia là tiểu thuyết hư cấu (‘Up In The Air’).

‘Moneyball‘ dựa trên cuốn sách cùng tên, đạo diễn bời Benneth Miller (từng đạo diễn phim ‘Capote‘), với nam diễn viên chính là Brad Pitt (đồng thời là 1 trong những nhà sản xuất của phim), Jonah Hill & Phillip Seymour Hoffman.

Bộ phim bắt đầu với cảnh Billy Beane ngồi một mình trên hàng ghế sân vận động Coliseum, sân nhà của đội bóng chày Athletics Oakland, CLB mà anh làm giám đốc điều hành. Billy Beane ngồi đó một mình giữa buổi tối, cứ bật rồi lại tắt rồi lại bật chiếc radio cầm tay, để nghe tường thuật trực tiếp trận đấu giữa Athletics Oakland và đội New York Yankees, trận thứ 3 trong loạt 3 trận để giành quyền vào chơi trận chung kết giải bóng chày nhà nghề Mỹ năm 2001. Kết quả, New York Yankees thắng với tỷ số 3 – 2, giành quyền vào chơi trận chung kết.

Billy Beane ko bao giờ xem đội mình thi đấu trực tiếp mà chỉ nghe thông tin tường thuật qua radio hay TV một mình

Đó là cuộc đối đầu giữa một người khổng lồ, với một gã tí hon, ít ra là xét trên phương diện tài chính. Đội Yankees có tổng kinh phí hoạt động hàng năm khoảng 120tr USD trong khi The A’s (Athletics Oakland) chỉ chưa đến 40tr USD.

The A’s thua. Đó là điều chẳng ai bất ngờ. Nhưng đau đớn hơn là sau trận thua đó, 3 cầu thủ chủ lực của The A’s là Johnny Damon, Jason Giambi & Jason Isringhausen đã bị 2 ông lớn của làng bóng chày Mỹ mua ngay lập tức. Thất vọng bởi vì thua trận một phần, chán nản hơn khi phải chứng kiến ‘The Yankees lấy mất quả tim và The Red Sox (đội Boston Red Sox) lấy mất quả thận)’ và The A’s chẳng khác nào lò luyện gà cho những đội bóng lớn‘. Nhưng cái khó khăn nhất là, để bắt đầu một mùa bóng mới, Billy phải đối mặt với việc xây dựng lại lực lượng chủ chốt với một nguồn kinh phí vô cùng eo hẹp. Mặc cho khát khao và năng lực của Billy là đưa The A’s đến với trận chung kết, và giành chiến thắng, nhưng ông chủ của đội đã nói thẳng với Billy rằng ‘đây chỉ là một đội bóng với kinh phí nhỏ và anh cũng chỉ là một giám đốc điều hành hạng trung mà thôi‘. Thực tế thì luôn phũ phàng như vậy.

Sau đó, ban tuyển trạch của The A’s, bao gồm những ông già trên 50 tuổi, nhóm họp lại để tìm kiếm, tuyển lựa những cầu thủ mà theo họ, là tầm tầm có tiềm năng thay thế cho 3 cầu thủ trụ cột đã ra đi. Và cách đánh giá cầu thủ của họ chỉ đơn thuần dựa trên kinh nghiệm & thước đo là cảm tính. Nào là cầu thủ A có cơ hàm tốt, cầu thủ B có thể đánh bóng đi theo đường cong, cầu thủ C thì là một vận động viên giỏi, hay thậm chí là anh B khá về năng lực nhưng bạn gái anh ta thì … xấu, và bạn gái xấu đồng nghĩa với việc … thiếu tự tin. Billy ngồi trong buổi họp đó, lắng nghe những cuộc bàn luận đó, trong một tâm trạng vô cùng chán nản và … bất lực. Bởi lẽ vấn đề thực tế là, nếu có thể mua một cầu thủ có tiềm năng để thay thể cho 1 trong 3 trụ cột trên, thì vào đến trận chung kết, chắc chắn vẫn thua những đội bóng lớn. Vì những đội lớn, họ đủ giàu để mua tất cả những cầu thủ giỏi nhất. Còn nếu có cầu thủ giỏi hơn 3 cầu thủ kia, thì chắc chắn A’s ko đủ tiền để mua được. Và như thế Billy đã thốt lên, ‘thế thì các anh còn bàn làm cái quái gì nữa vậy?

Billy Beane họp cùng ban tuyển trạch của The A’s

Billy nhận ra rằng, cứ tiếp tục theo cách làm bấy lâu nay, The A’s vẫn sẽ chỉ là lò luyện gà cho những đội bóng lớn. The A’s sẽ chẳng bao giờ có thể trở thành một đội bóng lớn thật sự. Và Billy, nhiệm vụ của anh là phải tìm một cách nào đó khác đi.

Trong một lần đến thăm đội Cleveland Indians để đàm phán mua cầu thủ thế chỗ cho Johnny Damon, Billy đã gặp Pete Brand. Pete là một sinh viên mới tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế từ trường Yale, là trợ lý cho giám đốc điều hành của đội Indians và là một chuyên viên phân tích cầu thủ. Trong suốt buổi họp, Pete đã ít nhất 2 lần nói nhỏ để giám đốc điều hành của Indians không bán cho Billy cầu thủ mà Billy muốn. Billy vừa tức tối, nhưng lại cảm thấy anh chàng Pete này có gì đó rất thú vị. Một buổi tối sau cuộc chạm trán đó, Billy gọi cho Pete và hỏi rằng, liệu với vai trò 1 chuyên gia phân tích, Pete có chọn Billy ngay vòng đầu tiên không (Billy vốn từng là một cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp). Pete đã nói rằng anh ta chỉ chọn Billy sau vòng đấu thứ 9, không kèm theo phụ cấp. Và rằng lẽ ra Billy nên từ chối đề nghị trở thành cầu thủ chuyên nghiệp ngay khi tốt nghiệp trung học mà nên nhận học bổng của trường Standford.

Billy nhớ lại, từ khi còn bé anh đã được bố dạy cho những bài bóng chày cơ bản. Lên đến trung học, anh chơi thể thao rất tốt, cả bóng đá, bóng rổ và nhất là bóng chày. Anh là cầu thủ hiếm hoi sỡ hữu được một lúc nhiều kỹ năng: chạy, ném bóng, đánh bóng, bắt bóng. Và khi tốt nghiệp cấp 3, những nhà tuyển trạch của đội New York Mets, một đội khá nổi tiếng thuộc hệ thống NBL (Giải bóng chày nhà nghề Mỹ), đã đến gặp anh và gia đình, để đề nghị anh về chơi cho họ với một mức thù lao rất hấp dẫn. Cùng lúc đó, trường ĐH danh tiếng Standford cũng đưa ra một học bổng toàn phần để muốn Billy về trường. Cuối cùng Billy đã từ chối Standford, để theo nghiệp bóng chày, một quyết định mà sau này anh giải thích là ‘sai lầm duy nhất mà tôi đã chọn chỉ vì tiền’.

Billy chọn thi đấu cho New York Mets, và sự nghiệp cầu thủ của anh thật sự là một nỗi thất vọng lớn, nếu so với những gì các nhà tuyển trạch và chuyên gia bóng chày dự đoán rằng, anh sẽ trở thành một ngôi sao. Sự nghiệp cầu thủ bết bát của anh kéo dài được 6 năm, anh quyết định giã từ nó vào năm 1990 để ứng tuyển trở thành một chuyên viên tuyển trạch cho đội Athletics Oakland. Sau 3 năm ở vị trí này, anh đã trở thành trợ lý của giám đốc điều hành, và 5 năm sau, chính thức nắm quyền điều hành câu lạc bộ.

Ngày hôm nay, khi ngồi ở vị trí này, khi đối diện với những thất bại trong hiện tại, lẫn quá khứ, Billy nhận ra rằng, thật là sai lầm khi cứ để cho những nhà tuyển trạch lựa chọn cầu thủ dựa trên những đánh giá hoàn toàn cảm tính như vậy. Họ đã sai lầm, ít ra là với trường hợp của cá nhân anh. Và nếu theo lối cũ, The A’s sẽ tiếp tục thất bại dưới tay những đội bóng lớn.

If we played like The Yankees in here, we would lose by The Yankees out there.

speaks Billy in the meeting of the A’s team’s scout. 

Sau khi nhận thấy tiềm năng của Pete, Billy đã đưa anh về làm trợ lý GM (General Manager) và là chuyên viên phân tích cầu thủ cho đội The A’s. Phương pháp phân tích của Pete là dựa trên những hệ số tính toán, đo lường một cách khoa học, tất cả những chỉ số hoạt động của một cầu thủ ở trên sân, từ đó đưa ra dự đoán về số điểm mà cầu thủ đó có thể ghi được trong một mùa bóng. Pete đã lập luận rằng, ‘các đội bóng lẽ ra không nên bỏ tiền mua cầu thủ, cái họ cần mua là chiến thắng. Và để có được chiến thắng thì họ phải ghi được điểm. Vậy tức là, anh phải mua điểm, chứ ko phải mua cầu thủ.’

Thật ra cách phân tích này không hề mới, nó đã được một người tên là Bill James tìm tòi và viết ra trong những cuốn sách phân tích về bóng chày từ thập niên 80s. Trong đó ông dùng toán học để phân tích các cầu thủ, phân tích các huấn luyện viên dựa trên những con số đánh giá các hoạt động của họ ở trên sân bóng, từ đó chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thắng hay thua của một đội bóng.

Pete đã cho rằng ‘hiện tại phần nhiều cầu thủ được đánh giá quá cao. Đa phần những đánh giá này đều là chủ quan, dựa trên tuổi tác, ngoại hình, tính cách, dư luận và một số kỹ năng của cầu thủ đó. Trong khi một số lớn khác thì lại bị đánh giá thấp hơn so với năng lực mà họ thật sự sở hữu chỉ vì một vài nhược điểm ngớ ngẩn ở bản thân‘. Pete thuyết phục Billy rằng, bằng việc phân tích gần 20,000 cầu thủ của giải nhà nghề, chắc chắn sẽ sàng lọc ra được một danh sách 25 cầu thủ có đủ năng lực mà đội The A’s có khả năng mua được, để làm nên một đội hình vô địch.

Jonah Hill trong vai Peter Brand

Và Billy quyết định ủng hộ lý thuyết của Pete trong việc tuyển chọn những cầu thủ để bổ sung cho 3 vị trí trụ cột đã bị khuyết. Không cần phải bàn thảo gì nhiều, Billy đưa ra ngay những chọn lựa của mình: Chad Bradford: cầu thủ ném bóng có cách ném rất kỳ cục và mắc cười, Scott Hatteberg: cầu thủ bắt bóng & ném bóng nhưng bị chấn thương khuỷu tay mà Billy muốn đào tạo anh thành 1 cầu thủ chơi vị trí first base (vị trí cực kỳ khó chơi) và David Justice: một cầu thủ đã 37 tuổi, bị chấn thương chân và đã qua thời kỳ đỉnh cao. Cả 3 đều có điểm chung: bị đánh giá thấp bởi các đội bóng khác, và có thể mua được với giá rất hợp lý. Nhưng quyết định để mua họ, là dựa trên hệ số OBP (on base percentage) trung bình của cả 3 cầu thủ cộng lại tương đương với OBP của 3 trụ cột đã ra đi.

Lựa chọn của Billy ngay lập tức vấp phải sự chống đối của hội đồng tuyển trạch, nơi mà các ông già chỉ muốn làm việc theo cách thức cũ: kinh nghiệm & cảm quan cộng thêm dư luận. Họ không cho rằng việc áp dụng khoa học với tính toán, số liệu vào bóng chày là có thể thành công. Họ bảo thủ và chỉ muốn giữ nguyên cách làm việc cũ. Mâu thuẫn đó dẫn đến việc Trưởng hội đồng tuyển trạch của The A’s là Grady đấu khẩu với Billy và bị sa thải. Chưa hết, huấn luyện viên trưởng của The A’s là Art Howe, do mâu thuẫn về bản hợp đồng chỉ có thời hạn 1 năm vơí Billy, nên chỉ muốn sử dụng những cầu thủ cũ của đội mà không dùng những nhân tố mới. Billy buộc lòng phải chơi chiêu bài cuối cùng: bán đi những cầu thủ ngôi sao còn lại của đội, để ép Art Howe phải dùng những cầu thủ mới tuyển về. Được ăn cả, ngã về không.

Quyết đoán và dứt khoát khi đưa ra quyết định của mình

Và kết quả là… thời điểm đầu mùa giải, The A’s thua liên tục 14 trận trong chuỗi 17 trận. Những chỉ trích bắt đầu dồn dập nổi lên về việc Billy chắc chắn sẽ thất bại với những thử nghiệm và lý thuyết của anh. Truyền thông và giới bình luận còn nhẫn tâm hơn khi gợi ý rằng, điều mà The A’s cần thay đổi không phải là cách tuyển chọn cầu thủ hay xây dựng lại đội bóng, mà có lẽ là một giám đốc điều hành mới. Billy, với sự quả quyết và độc lập của mình, anh vẫn kiên định theo đuổi đến cùng ý định, không dao động.

Không chỉ dừng lại ở việc mua bán cầu thủ và cứng rắn với ban điều hành, chính Billy & Pete bắt đầu tiếp xúc với từng nhóm cầu thủ, phân tích cho họ thấy những điểm mạnh, điểm yếu của từng người dựa trên những băng ghi hình, dựa trên phần mềm phân tích, để khuyến khích họ làm tốt những gì đã làm, thay đổi những gì chưa tốt và cũng là để tiếp cho họ tinh thần khích lệ, khát khao chiến thắng. Sau đó, kết quả được cải thiện rõ rệt, The A’s bắt đầu biết đến chiến thắng. Và không những vậy, họ còn thắng 1 mạch … 14, rồi, 16, rồi 18, 19 trận liên tiếp. Và ngày 4 tháng 9 năm 2002, The A’s thắng trận thứ 20 trận liên tiếp, lập nên kỷ lục mới trong lịch sử 103 năm của giải NBL, phá vỡ kỷ lục 19 trận thắng liên tiếp trước đó của N.Y Yankees & Boston Red Sox.

Lập nên 1 kỷ lục mới trong lịch sử bóng chày Mỹ, đó quả là 1 thành tích đáng tự hào. Nhưng với Billy Beane, đó không phải là mục đích của anh. Anh đã nói với đại ý rằng ‘Tôi không ở đây để lập ra kỷ lục. Nếu chúng ta không thắng được trận chung kết, họ sẽ gạt bỏ chúng ta. Những gì chúng ta đang nỗ lực làm sẽ bị xoá bỏ. Đội nào đó thắng giải World Series (World Cup của bóng chày) thì tốt cho họ. Nhưng nếu chúng ta thắng, với 1 cái đội như thế này, với một nhúm kinh phí như kia, thì chúng ta, chúng ta sẽ thay đổi trò chơi này mãi mãi.’

Thực tế, đời không như là mơ. The Athletics Oakland, với 20 trận thắng liên tiếp đó, trở thành đội đứng đầu bờ Tây, bước vào trận đấu giành quyền chơi trận chung kết, và lần này… lại thất bại trước đội Minnesota Twins (đứng đầu khu vực Trung tâm). Như thế, mục tiêu mà Billy đặt ra, vẫn chưa thể nào đạt được.

Nhưng với thành tích ấn tượng mà anh đã chứng tỏ, anh nhận được một đề nghị mời về làm GM cho đội Boston Red Sox, một trong những đội bóng chày giàu truyền thống và hàng đầu thế giới, với một mức thù lao khủng nhất thời điểm đó: 12 triệu 500 ngàn USD. Nếu Billy nhận lời đề nghị này, anh sẽ trở thành GM được trả lương cao nhất trong lịch sử thể thao Mỹ. Nhưng… Billy Bean đã từ chối để tiếp tục ở lại với The Athletics Oakland.

Lý do có thể được giải thích rằng, trong quá khứ, anh đã từng 1 lần quyết định sai lầm chỉ vì tiền, và anh không muốn lặp lại sai lầm đó một lần nào nữa.

2 năm sau, Boston Red Sox đã chiến thắng ở giải World Series, lần đầu tiên kể từ năm 1918, bằng cách áp dụng phương thức thành công từ The A’s.

Còn Billy, cho đến thời điểm này, vẫn đang nỗ lực để tìm kiếm chiến thắng ở trận chung kết.

‘Moneyball’ khép lại, nhưng nó đã để trong lòng tôi một sự khích lệ và nguồn cảm hứng mãnh liệt. Kết cấu film chặt chẽ, tối giản, tập trung, giống với ‘Up In The Air’. Quay & dựng phim là một sự kết hợp vừa điện ảnh với những khung hình đặc tả, những cảnh cận, cảnh rộng hợp lý, nhưng xen vào đó là những đoạn ‘giả’ tư liệu khiến cho người xem cảm giác mọi thứ đang thật sự diễn ra. Screenplay rất tuyệt vời, tôi luôn thích những bộ film có screenplay hay, lời thoại khúc chiết, chính xác, gãy gọn và đi thẳng vào tim, vào óc.

Nhưng tuyệt vời nhất, theo tôi là diễn xuất của Brad PittJonah Hill (vai Pete Brand).

Brad đã diễn quá tốt, lột tả được toàn bộ chân dung, tính cách của một người đàn ông với công việc của mình: đơn độc, cứng rắn, quyết tâm, kiên định nhưng cũng có những lúc rất nóng nảy, những khoảng lặng trầm tư đầy cảm xúc và nhạy cảm. Brad đã khắc ghi được hình ảnh một người đàn ông thật sự cô độc, trong cuộc sống, công việc, trong từng quyết định của mình, và sống đến cùng một khi đã đặt niềm tin.

Billy Bean luôn cô độc với những cảm xúc và suy nghĩ của mình

Còn Jonah Hill thì đây thật sự là một vai diễn đột phá của anh, từ sau ‘Superbad’. Với vóc người to béo, anh ko lợi dụng để đóng mãi những vai hài hước, tầm phào, mà anh đã thật sự lột xác để tạo nên chân dung một chuyên viên phân tích hiền lành, nhưng thẳng thắn, nhạy cảm và hết lòng với công việc mình làm.

Tôi sẽ nhớ mãi đoạn hội thoại này giữa Billy & Pete:

Pete: This is the kind of decision that gets you fired. It is!

Billy: Yes, you’re right. I may lose my job, in which case I’m a 44 year-old guy with a diplomat and a daughter that I’d to be able to send to college. You’re 25 years old with a degree from Yale and a pretty impressive apprenticeship. I don’t think we’re asking a right question. I think the question we should be asking is, ‘Do you believe in this thing or not?

Pete: I do.

Billy: It’s a problem you think we need to explain ourselves. Don’t. To anyone.

Pete: Okay.

Billy: Now I’m gonna see this thing through, for better or worse.

Trong hầu hết mọi trường hợp, chiến thắng đi liền với hạnh phúc, niềm vui và vinh quang, danh vọng. Nhưng đôi khi, thất bại lại có nét lãng mạn của riêng nó. Và bóng chày đối với Billy Beane chính là nơi anh tìm thấy sự lãng mạn đó.

Brad Pitt ký tặng fans của The A’s trong buổi premiere film.

Năm nay thật sự không có nhiều film để lại cảm xúc dồi dào để tôi có thể làm 1 bài tổng kết Top Films như năm ngoái.

Nhưng ‘Moneyball’, thì đủ hay để tôi có thể viết 1 bài dài đến thế này.

Trong dòng suy nghĩ (2)

Cả ngày Chủ nhật nắng chang chang để rồi mưa suốt từ chiều đến đêm.

Tôi ngồi trên giường đọc báo và nghe 1 album nhạc mới của Girls.

Cảm giác mệt mỏi sau 1 ngày nhiều việc nhưng cơn ngủ vẫn chưa đến.

Mở cửa ban công, tắt đèn phòng, vặn nhỏ nhạc, tôi ngồi hút thuốc và nghe mưa rơi rả rích.

Cảm thấy một nỗi buồn mơ hồ nhẹ nhàng xâm chiếm cõi lòng.

Tôi đoán là lúc này Em cũng đang trằn trọc chưa ngủ được vì lạ nhà.

Đêm nay Em ngủ ở nhà mới. Căn nhà mà cả Em và tôi đã quyết tâm tìm cho bằng được để chuyển đến, để dần thực hiện kế hoạch an cư và lạc nghiệp, để không còn cảm giác sống tạm, sống nhờ trong 1 căn phòng, căn buồng bức bí nào nữa…

Khoảng thời gian tìm nhà cùng Em, tôi được lần đầu tiên trải nghiệm cảm giác mình đang tìm nơi ở cho chính mình, tự mình bắt đầu cuộc sống tự lập vậy.

Và cả 2 ngày nay tôi được lao động chân tay, sắp xếp, tháo dỡ, bốc vác, chạy đi chạy lại như con thoi giữa 2 đầu Đông Tây của thành phố…  Mệt nhưng thấy mình đang được làm việc có ích nên tôi rất vui, thấy nhẹ nhàng.

Tôi thấy rằng sau bao nhiêu thời gian sống kiểu mộng mơ, chỉ biết đến mỗi bản thân mình (thế mà vẫn chưa đến đâu) thì bây giờ tôi đang bắt đầu có những suy nghĩ sống sao cho có ích, với những người mà mình yêu thương.

Âm nhạc, hay sách vở, film ảnh… sẽ chẳng có ý nghĩa gì nhiều nếu ta chỉ mải mê sống mãi ở bên trong đó, mà chẳng bước ra ngoài xem cuộc đời thật sự là thế nào, hay chẳng bao giờ quan tâm đến bên trong Ngôi Nhà nà mình đang sống thế nào.

Và tự nhiên trong dòng suy nghĩ đó, tôi nghĩ về Bố, về Mẹ, về Gia Đình, về Ngôi Nhà của mình…

Xã hội ngày càng tân tiến, với những cái như Mạng xã hội, games, thiết bị điện tử, truyền thông… khiến ta càng ngày càng chui vào cái vỏ bọc và chỉ quẩn quanh trong đó, càng ngày càng thu hẹp những giao tiếp thật sự giữa con người với con người, khiến mọi thứ xa lạ, ngăn cách hơn…

Chỉ một vài động tác trên mạng ta đã có thể biết hết mọi sự ở năm châu bốn bể, nhưng liệu ta có hiểu rõ bản thân mình, liệu ta có bao giờ tự hỏi Bố đang lo gì, Mẹ đang nghĩ sao, có biết được mọi thứ đang xảy ra trong chính Gia Đình mình …?

One Year of Love.

Just one year of love
Is better than a lifetime alone

One sentimental moment in your arms
Is like a shooting star right through my heart

It’s always a rainy day without you
I’m a prisoner of love inside you

I’m falling apart all around you 
My heart cries out to your heart

I’m lonely but you can save me
My hand reaches out for your hand

I’m cold but you light the fire in me
My lips search for your lips
I’m hungry for your touch
There’s so much left unspoken

And all I can do is surrender
To the moment just surrender

And no one ever told me that love would hurt so much
And pain is so close to pleasure
And all I can do is surrender to your love

13.08.2010 – 13.08.2011 

Lần đầu đọc Nguyễn Huy Thiệp.

Đã mấy tháng qua tôi không viết một chút gì.

Thật sự cũng rất muốn viết về thứ này thứ kia, nhưng khi có hứng thì lại không rảnh,  lúc rảnh thì cảm hứng lại bay đâu mất.

Đầu óc lúc thì đông cứng như đá không nghĩ được gì, lúc lại loãng ra như nước trôi đi đâu mất hút.

Tôi vẫn đọc sách, nghe nhạc, xem film, đi làm, đi chơi, gặp bạn bè, người yêu, vẫn thấy bên trong có gì đó thôi thúc mình, nhưng chẳng biết bắt đầu từ đâu, và sẽ làm gì cả.

Chỉ đến trưa hôm nay, một trưa Chủ nhật như lệ thường, ăn trưa xong tôi lên phòng nghe nhạc và đọc sách.

Mở Paulo Nutini , nhạc dễ chịu, êm đềm và đọc “Không Có Vua” của Nguyễn Huy Thiệp.

Dẫu đã được anh Lĩnh nhắc đến từ lâu, và nhắc khá nhiều lần là “em phải đọc Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương hay Nguyễn Việt Hà…” nhưng đến tận đầu tháng rồi tôi mới mua được sách của Nguyễn Huy Thiệp.

“Không Có Vua” là 1 tuyển tập các truyện ngắn, thể loại mà vốn dĩ trước nay tôi không thích đọc vì nghĩ rằng nó cứ … tủn mủn, rời rạc, không xuyên suốt, liên kết và chứa đựng nhiều như truyện dài hay tiểu thuyết. Nhưng ngay trong chính thời điểm này, đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp lại cực kỳ thích hợp với tôi.

Vì là truyện ngắn nên tôi cứ nhẩn nha đọc, không vội vàng, không ngốn hay “nuốt” sách, và mỗi lúc đọc, cảm xúc lại một dầy thêm.

Chính vì thế, đến trưa nay, khi đã đọc được 1 nửa cuốn sách, tôi mới quyết định viết ra cảm xúc của mình.

Đọc “Không Có Vua” tôi được cảm nhận, hình dung 1 cách chậm rãi và rõ nét những sinh hoạt, đời sống của con người lao động, lẫn trí thức vùng nông thôn và thành thị miền Bắc, nơi quê hương mình.

Bố mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên ở nông thôn miền Bắc. Nhưng tôi lại sinh ra và lớn lên ở thành thị Sài Gòn. Vì vậy dù cho tôi tự hào mà nói rằng mình được hưởng thụ những gì văn minh, tân tiến và hiện đại của xã hội đương thời nhưng chưa bao giờ tôi quên gốc gác của mình là vùng nông thôn miền Bắc.

Giờ đây khi đọc “Không Có Vua”, tôi thấy lại được những hình ảnh khá thân thuộc mà tôi đã từng thấy mỗi khi về thăm quê, nhưng giờ đây là dưới 1 lăng kính khác.

Các truyện ngắn trong “Không Có Vua” đa số được Nguyễn Huy Thiệp viết trong giai đoạn từ 1982 – 1988. Đó là giai đoạn đất nước đang bước vào thời kỳ đổi mới, xã hội đang chuyển mình giữa 2 mảng sáng tối. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp tập trung khai thác mảng tối nhiều hơn. Bối cảnh xã hội, làng quê, nông thôn hiện lên vẫn có nắng, có mưa, có niềm vui, bất hạnh nhưng lẩn trong đó là những uất ức, trầm buồn, cay đắng và tủi hổ.

Nguyễn Huy Thiệp viết như kể chuyện, cách kể chuyện như kiểu ông bà, người già ngày xưa hay kể lại cho con cháu nghe, qua lời kể đó, mọi diễn biến, hình ảnh hiện lên đều rất chân thật, mộc mạc đến mức hơi thô tục, nhưng đầy nhân văn, và cao đẹp.

Ẩn chứa trong những trang viết đó, là những chiêm nghiệm, triết lý sâu xa về thân phận con người, về bản chất và lối sống ở đời, về những bi kịch và những nỗi đau.

Đọc “Không Có Vua” của Nguyễn Huy Thiệp, và chợt ngẫm lại thời buổi bây giờ, xã hội Việt Nam hiện tại, thấy mọi thứ vẫn chẳng đổi thay bao nhiêu về bản chất.

Tôi xin trích một đoạn trong truyện ngắn “Những Bài Học Nông Thôn” để làm minh chứng:

Anh Triệu nằm ngả trên bãi cỏ xanh. Anh bảo: “Nằm xuống đây. Chú ở thành phố, thế chú có khinh người nhà quê không?” 

Tôi bảo: “Không”

Anh Triệu bảo: “Ừ. Đừng khinh họ. Với nông thôn, tất cả bọn dân thành phố và bọn mang học vấn chúng ta đều mang trọng tội. Chúng ta phá tan phá nát họ ra bằng những lạc thú vật chất của mình, cả giáo dục lẫn khoa học giả cầy, hành hạ bằng luật lệ, lừa bịp bằng tình cảm, bóc lột tận xương tuỷ, chúng ta đè dí nông thôn bởi thượng tầng kiến trúc với toàn bộ giấy tờ và những khái niệm của nền văn minh… Chú có hiểu không? Tim tôi ứa máu. Bao giờ tôi cũng nói rằng: mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ở nông thôn…” 

Anh Triệu bảo: “Dân chúng nhẹ dạ nông nổi cũng như thế đấy. Các nhà chính trị, các thiên tài là kẻ có khả năng xô dạt dân chúng về cả một phía. Dân chúng cầu lợi. Chỉ cần tí lợi là họ sẽ a dua nhau bu đến. Họ không biết rằng điều ấy chất chứa toàn bộ sự vô nghĩa trong đời sống của họ. Họ sinh ra, hoạt động, kiếm ăn, cứ dạt chỗ nọ rồi dạt chỗ kia mà chẳng tự định hướng cho mình gì cả. Chỉ đến khi nào dân chúng hiểu rằng không được cầu lợi, mà có cầu lợi thì cũng chẳng ai cho, người ta chỉ hứa hẹn suông để bịp bợm thôi, thảng hoặc có cho thì cho rất ít, lợi bất cập hại. Lợi phải do chính dân chúng tạo ra bằng sức lao động của mình. Họ cần hiểu rằng phải cầu một thứ cao hơn thế nữa, đấy là giá trị chân chính cho toàn bộ cuộc sống của mình, quyền được tự mình định đoạt cuộc sống, tóm lại là TỰ DO.

Đọc “Không Có Vua” có những lúc tôi cười phá lên hăng hắc. Lại có lúc tôi thấy chua chát và buồn. Và rất nhiều lúc tôi phải gấp ngay sách lại dù đang dọc giữa chừng, vì thấy uất quá, thấy quá bất công và đau lòng… Và tôi thấy rung động khi đối diện với những cảm xúc rất “con người”, rất trần tục và thật thà của người dân lao động. Họ ít chữ nghĩa, ít học vấn, ngu muội và thô thiển, nhưng thật thà và rất đáng thương.

Tôi tự hỏi, cho đến bao giờ thì một trong những truyện ngắn của ông sẽ được đưa vào sách giao khoa, được giảng dạy, để các thế hệ con em sau này, không bị những phù du, phù phiếm hay ảo tưởng về cuộc đời, để nhận ra đâu là chân giá trị, để biết buồn, biết thương cho người khác.

Đọc Nguyễn Huy Thiệp, không phải để chìm đắm hay khám phá điều gì, mà chỉ đơn giản là để tìm về, để thấm thía, và nhận ra.

Nhận ra rằng mình vẫn sống mà thật ra chưa sống.

Chưa sống thật sự một chút nào.