Alex Turner, anh là ai?

Why-Alex-Turner-Should-Sing-the-Next-Bond-Theme-Blog-FDRMX

 

Alex David Turner là một nhân vật phức tạp để giải mã. Một thiên tài soạn nhạc và viết ca khúc? Hiển nhiên. Một tay chơi Rock’n’Roll màu mè? Có lẽ. Trong một năm đánh dấu cột mốc của trưởng ban nhạc Arctic Monkeys và trong tuần mà album mới của The Last Shadow Puppets (dự án riêng của Alex và người bạn lâu năm, Miles Kane) được phát hành, cây bút Matt Wilkinson của tuần báo NME đã mang đến cho chúng ta bài viết về một nhân vật cực kỳ khó nắm bắt của thế giới âm nhạc.

Trước khi dịch toàn bài của Matt, xin được nói rằng cá nhân tôi đã có 1 ‘tình yêu’ dành cho Alex Turner từ những ngày đầu nhìn thấy anh chơi nhạc. Cũng giống như tôi dành tình yêu cho Murakami hay Radiohead hay Manchester United, thật sự rất khó và gần như không thể nói được lý do tại sao tôi lại yêu thích anh chàng này đến vậy. Tôi chỉ biết rõ 1 điều rằng, cái tình yêu mà tôi dành cho anh ta và âm nhạc của anh ấy không phải kiểu thích điên cuồng trong 1 giai đoạn nào đó rồi thôi. Mà nó cứ âm ỉ và ngày càng trưởng thành theo năm tháng, theo dòng đời mỗi lúc tôi lớn lên. Và đến tận hôm nay, tôi mới ‘mượn’ được bài viết này, để kể cho bạn câu chuyện về Alex.

—-

Tháng 12 năm 2003, cậu bé Alex Turner 17 tuổi, tung tăng tự do ở London, đã nghĩ rằng mình đang ở những tháng ngày hạnh phúc nhất. Qua đêm trong căn phòng giá 30 bảng của Golders Green B&B, đắp chung chăn với 2 cậu bạn thân Matt Helders và Ander Nicholson, chàng barman bán thời gian đến từ Shefflied ấy trông coi một trong những địa điểm tổ chức âm nhạc nổi tiếng nhất phía Bắc London, Alexandra Palace. Thời ấy, band The Strokes đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, có một buổi diễn trên sân khấu tại đó, cậu bé fanboy Alex đã có cơ hội được gặp 2 thần tượng của mình, trưởng nhóm The Libertines Pete Doherty và tay guitar chính Carl Barat cũng đang đứng trong đám đông xem show diễn.

Trò chuyện với NME năm 2011, Turner vẫn còn hào hứng nhớ lại ‘cuộc phiêu lưu nho nhỏ’ mà cả bọn đã có đêm hôm ấy. ‘Có thể là mấy chú ấy ghét nghe điều này lắm’, Alex tuôn ra khi nói về The Strokes, ‘nhưng họ là band nhạc mà khuyến khích tôi xé toạc gối quần jeans rồi viết lên đó bằng bút lông không xoá được. Tôi đã viết lên đó dòng mực đỏ: ‘I’ve got soul and I’m superbad!”

Alex chụp hình chung với The Strokes

Chính xác 2 năm kể từ show diễn đó, con tạo đã xoay vần đến mức không thể nào hình dung ra được. Lần này, đến lượt The Strokes là những người há hốc mồm chứng kiến một band nhạc mới siêu hay ho có tên gọi Arctic Monkeys chơi 25 phút tái hiện lại những âm thanh kinh điển một thời mà The Buzzcocks đã từng tạo ra, kể từ ngày mà 2 bậc tiền bối Johnnys (Ramones và Rotten) đã sáng tạo nên nhạc Punk hơn 3 thập niên về trước. Đó cũng là thời điểm mà Turner (cùng đồng bọn: Nicholson, Helders và Jamie Cook) đã hoàn toàn soán ngôi của thần tượng Doherty trở thành những người viết nhạc hàng đầu UK, sẵn sàng để bước ra sàn diễn toàn cầu.

Và ngày hôm nay, chàng ta vẫn vững vàng ở đó. Những tác phẩm của chàng đã nhận được vô vàn lời ca ngợi, từ huyền thoại chân thành như David Bowie: “một niềm vui thích đấy.” cho đến tay to nhạc Rap Diddy: “Arctic Monkeys quá hay ho đi chứ!!!” thậm chí đến chính trị gia như Gordon Brown (nhưng thôi tốt hơn hết là không nên trích dẫn) và thậm chí là nhà thơ Simon Armitage: ‘Chúa phù hộ cậu ấy.’ Và hãy đối mặt với sự thật đi, có thể là bạn cũng phải ngợi khen cậu ta nữa rồi.

Nhưng điều gì đã thật sự lên dây cót cho Alex Turner chạy nhanh đến thế? Suốt 5 năm qua tôi đã phỏng vấn cậu ấy vô số lần, chứng kiến cậu chàng phát triển và tiến bộ. Tháng 1 năm nay, Alex sẽ đánh dấu tuổi 30 và chỉ vài tuần sau đó là kỉ niệm 10 năm Arctic Monkeys thay đổi cuộc đời với album đầu tay ‘Whatever People Say I Am, That’s What I Am Not’. Tuần này, LP thứ 2 của cậu chàng và anh bạn thân Miles Kane, dự án bên lề The Last Shadow Puppets sẽ trình làng với cái tên ‘Everything You’ve Come To Expect’. Và lúc này, Alex đã và đang sống một lúc nhiều cuộc đời, xẹt qua lại khắp nơi trên thế giới, biến hình thành 1 hoàng tử RocknRoll thực thụ: tóc bóng mượt, đĩa nhạc vàng, sống thượng lưu ở LA và một danh sách cặp bồ hạng A hoàn hảo.

33aecd07cf74f86089055e9b907f4a10

Trong lần được feature lên bìa NME đầu tiên năm 2005, Alex đã nói: “Tôi thích nghĩ rằng mình đang đi trên dây nối giữa 2 đầu 1 là Mike Skinner (một rapper indie người Anh) và một đầu là Jarvis Cocker (trưởng nhóm Pulp – một trong những ban nhạc định hình nên Britpop thập niên 90). Một lời tuyên bố rất ‘chất’ nhưng chính bản thân Alex cũng biết rằng, điều đó sẽ không thể kéo dài. Cũng như Cocker đã từng nhảy ra trước khi con tàu Britpop chìm đắm năm 1997, Turner đủ tinh khôn cho dù mới 19 tuổi để biết rằng, mặc cho Arctic Monkeys đang là một hiện tượng thời bấy giờ, cậu chàng sẽ không thể nào cứ tiếp tục viết lặp đi lặp lại những ca khúc như đã làm trước đó: hoành tráng, tươi vui, những ca khúc ‘quốc dân’ về việc chứng kiến những ban nhạc tệ hại chơi ở Sheffield nơi Alex làm bar tender (bài “Fake Tales of San Francisco”) hay về những cuộc chạm trán kỳ lạ với những gã cặn bã bên ngoài phòng tập của Arctic Monkeys (‘When The Sun Goes Down’) và về việc nghèo rách túi chỉ thèm khát có được một đôi sneaker Reebok mới (bản ‘A Certain Romance’).

Arctic Monkeys 2005

Trò chuyện với anh chàng nhiều năm sau khi sự cuồng về việc Arctic Monkeys-mang-chất-Beatles lắng xuống, Turner nói với tôi rằng anh chàng đã sững sờ chết điếng về những thứ tào lao mà mọi người gán cho anh. Một trong những sự kiện đáng nhớ là trong vòng 6 tháng kể từ lần lên bìa và phỏng vấn độc quyền đầu tiên, Alex đã tự ‘phản bội’ lại chính bản thân mình trước đó bằng việc tuyên bố rằng đĩa đơn ‘Leave Before The Lights Come On’ sẽ là lời chia tay của anh dành cho một Alex Turner mà cả đất nước đang mê đắm và kỳ vọng. “Đó là ca khúc cuối mà tôi viết về việc đi chơi lòng vòng và mọi kiểu thế,’ cậu chàng giải thích, nhằm vĩnh viễn đóng lại một chương trong cuộc đời. ‘Cuộc sống của tôi bây giờ thật sự không giống anh chàng đó chút nào nữa rồi.”

Và quả thật là kể từ đó, Alex đã gần như phải tự mình lột xác rất nhiều lần nữa. Mỗi ca khúc mà anh chàng viết trong album thứ 2 “Favourite Worst Nightmare’ đều trưởng thành và chững chạc hơn, màu sắc đa dạng hơn và thậm chí là kỳ lạ hơn những chất liệu mà anh đã có khi còn teen, và mỗi mẻ anh cho ra đời sau đó đánh dấu một chặng đường anh đã đi xa hơn từ xuất phát điểm Shefffield ban đầu.

“Việc bạn có thể nhìn được qua vai mình có ý nghĩa quan trọng thế nào bạn biết không?” Anh ta đã hỏi như thế trong thông cáo báo chí đi cùng với album ‘Everything You’ve Come To Expect”.

“Chẳng phải là nó chẳng hề hào hứng hay thú vị khi cứ ôm mãi vào một điều gì đó hay một quan điểm của ai đó – bằng việc để cho điều đó ra đi và khám phá những gì đang diễn ra trước mắt bạn?”

Đây chính là điểm then chốt làm nên Alex Turner 2016. Đó là lý do giải thích cho việc trong khi cả nền báo chí Anh đang bận rộn với việc tâng bốc cậu chàng là một ‘Noel Gallager mới’ hồi 2005 (Noel Gallagher là người sáng tác chính, guitar chính của Oasis, ban nhạc đã làm nên Britpop) thì chàng ta đã bỏ hết những vị thế để trở thành ‘cậu bé vàng’ của kỷ nguyên Britpop 2.0 mà chạy thẳng đến sa mạc California với trưởng nhóm Queens Of The Stone Age Josh Homme. 2 ban nhạc đã đi tour cùng nhau năm 2007, và từ đó gã Rocker người Mỹ đã trở thành một hình tượng kiểu Jedi knight (hiệp sĩ Star Wars) đối với Arctic Monkeys, mà nhất là với Turner.

Nó cũng giải thích cho việc khi mà album ‘Humbug’ do Homme sản xuất cho Arctic Monkeys đậm chất pyschedelic đã khiến rất nhiều fans của Monkeys hoảng sợ, Turner vẫn có thể phản ứng một cách rất thông minh và đảo chiều khi ngay sau đó cho ra đời album ‘Suck It and See’ 2011 đầy nhịp điệu và đậm chất New York, trong đó kể về sự mê đắm của anh với cô bạn gái nổi tiếng Alexa Chung – fashionista và người dẫn chương trình truyền hình – trước khi hoàn toàn thu mình để tránh khỏi cái thế giới nhơ nhớp ‘sau giờ làm’ của Hollywood mà anh đã trải nghiệm trong một album mê hoặc toàn thế giới: “AM” ra đời vào 2013.

Alex Turner & Noel Gallagher

Alex Turner sẽ luôn chuyển động và luôn luôn làm việc. Nó là tinh thần không bao giờ ngoái đầu nhìn lại và nó cũng giải thích cho việc tại sao sau này Monkeys rất hiếm khi chơi live lại những sáng tác trong 2 album đầu tay. “Chơi lại mấy ca khúc đó để làm gì khi mà tụi tôi bây giờ không còn ở trong mấy bài hát đó nữa rồi?”, anh chàng đã nói thẳng với tôi như vậy. “Nó như kiểu tụi tôi đang phải chơi cover lại mấy bài hát khác, nhưng dù thế nào thì cũng không thể cover lại ‘Fake Tales of San Francisco’ được đâu…”

Lúc nói ra câu đó, Alex đang ngồi trong chuyến xe bus đi tour cho album ‘Suck It And See’, ngay trước khi cả band bắt đầu cho 1 chuyến hành trình đầy nghiêm túc tiến đến Hoa Kỳ.  Turner, giờ đây tóc chải ngược bóng lộn, mới vừa cắt phang kiểu tóc bob mái ngang như thời Beatles, nhìn từ đầu đến chân mỗi inch đầy chất Rockstar: áo da đen tuyệt đẹp, kính phi công gọng vàng, quần jeans Levis’ kiểu Joe Strummer (ca sĩ chính người Anh của nhóm The Clash), boots da đen cổ cao bụi bặm, nhẫn và dây chuyền vàng to bản. Cậu chàng cứ loay hoay liên tục, thảy 2 cục xúc xắc nhỏ vòng quanh cái bàn trong khi suy nghĩ và cân nhắc một cách chậm rãi – nhưng dường như không thể tìm được câu trả lời – về việc làm thế nào thành công lại đến với mình như thế.

Đó chính là cách mà Turner thể hiện trong những buổi trả lời phỏng vấn. Đầy cân nhắc, tinh tế nhẹ nhàng, yên lặng và hết sức cẩn trọng. Khi ngồi cùng với những thành viên của band, anh chàng sẽ gần như đợi mọi người nói xong hết rồi mới kết thúc bằng những câu chốt đầy thú vị và thông minh. Anh chàng sẽ nhăn mặt nếu bạn có ý định ‘hỏi xoáy đáp xoay’ về những chủ đề ‘sâu sắc’ như lyrics các ca khúc của chàng chẳng hạn – trước mặt mọi người (“Đừng làm như vậy với tui nhé Matthew, không phải là trước mặt mấy thằng bạn tui.” Nhưng khi bạn có dịp ngồi một mình với anh ấy, cậu chàng sẽ cởi mở một cách bừng sáng, dẫn dắt và khơi mào cho mọi dòng chảy đối thoại như thể lời lẽ tuôn ra suối chảy trên những bản thu âm.

“Tui nói với anh là tui có 1 cái bảng phóng phi tiêu, phải không nhỉ?” chàng ta đã nói chuyện đó 1 lần rồi, như thể anh ta đang dẫn dắt bạn vào một bí mật to lớn khi giải thích về quy trình viết nhạc cho album ‘AM’. Và theo 1 cách nào đó, với Turner, thậm chí một việc rất bình thường như việc chơi phóng phi tiêu ở trong căn hộ cũng có thể biến thành một nguồn cảm hứng, một thông điệp cho việc sáng tạo. “Tui sẽ chơi phóng phi tiêu, và chắc chắn sẽ có 1 sự đối xứng giữa việc cố gắng định hình những dòng lyrics đang vẩn vơ loanh quanh với việc ghim phi tiêu vào cái bảng. Nó kỳ cục.”

Hẳn Alex là một kẻ mộng mơ, vĩnh viễn muôn đời anh ta vẫn như thế – mặc cho anh ta đang trú ngụ hay xuất phát điểm từ chốn nào. Đây có lẽ là cái đã xúi giục tạo nên sự thay đổi lớn nhất trong con người Turner khi anh ta càng lúc càng già đi. Càng để cho cái tính cách ấy thẩm thấu qua những ca khúc , đổi thay tiết tấu từ kiểu bắn liên hồi của những bản nhạc thuởu hỉ mũi chưa sạch như ‘The View From The Afternoon’ và ‘Teddy Picker’ đến những ca khúc ngày một gợi tình và tự do thoải mái như ‘No 1 Party Anthem’, ‘Miracle Aligner’, Alex ngày càng dấn sâu và thể hiện vai trò của một người sáng tác nhạc.

“Thật lòng thì bạn chẳng thể nào dự doán chuyện quái gì sẽ đến tiếp theo với Arctic Monkeys”, người quản lý của ban nhạc, Ian McAndrew đã nói ở diễn đàn Music Business Worldwide 2015. “Nhưng bất kể họ làm gì, bạn sẽ không bao giờ có thể mất niềm tin, nhất là với Alex khi anh chàng viết nhạc. Kỹ năng và sự trữ tình trong âm nhạc của cậu ấy luôn phát triển. Cậu ấy là một nhà soạn nhạc vô cùng đặc biệt.”

Và là một người không bao giờ ngừng nghỉ. Năm ngoái, cậu chàng tiêu tốn 1 cách nghiêm túc toàn bộ khoảng thời gian nghỉ Arctic Monkeys vào việc viết nhạc và thu âm cho album ‘Everything You’ve Come To Expect’, rồi một vài ca khúc cho ban nhạc L.A Mini Mansions và theo như được biết, là anh chàng còn làm cả 1 album bí mật cho Alexandra Savior – người được mệnh danh là 1 Lana Del Rey mới của nước Mỹ.

Phản chiếu điều đó với khoảng thời điểm 2008 và 2010 khi những thành viên còn lại của Arctic Monkeys đều dành 1 khoảng thời gian cần thiết để nghỉ ngơi giữa những albums, Turner mặt khác thì lại lao vào viết nhạc và ra mắt album đầu tay với dự án The Last Shadow Puppets, rồi thu âm cho nhạc film Submarine của Richard Ayoade. Tính đến hiện tại, anh chàng đã có gần 150 ca khúc ra mắt từ 2005, cạnh tranh với con số 180 của 2 huyền thoại Lennon & McCartney ở thời hoàng kim của The Beatles và thậm chí hơn Noel Galler lẫn Radiohead làm được trong 1 thập kỷ đầu tiên của họ.

Và đến bình minh của 2016 Turner sẽ chính thức bước vào tuổi 30, chàng ta không hề nôn nóng về việc kỷ niệm 10 năm album đầu tay ‘Whatever People Say I Am, That’s What I Am Not’. Thay vào đó, công ty thu âm của anh chàng – Domino – dành tuần lễ kỷ niệm để thông báo về việc phát hành album ‘Everything You’ve Come To Expect’.

Được thu âm tại phòng thu Shangri La của nhà sản xuất Rick Rubin dưới những rặng dừa Malibu suốt những tháng cuối 2015, cấp độ ghê gớm của việc thay đổi nơi chốn này so với những gì từng là xuất phát điểm của Turner có thể khiến những ban nhạc thấy hoảng chứ đừng nói đến fans. Họ dùng cái xe bus đi tour cũ của Bob Dylan làm nơi mix nhạc, đốt nhang trầm suốt ngày và bạn có thể ngửi thấy mùi Thái Bình Dương qua làn hơi ấm áp thanh bình nhiệt đới.

tumblr_o34xmk81Zk1thz4e2o1_1280

Alex Turner & Miles Kane: “Everything You’ve Come To Expect” 2016

Nhưng cái lâu dài và điều quan trọng nhất với Turner khi cậu chàng ngày càng trưởng thành hơn – mà vẫn là một trong những người sáng tác đầy cảm hứng và làm say đắm số 1 nước Anh – đó là điều làm nên con người anh ấy: không bao giờ ngừng nghỉ, cứ mãi kiếm tìm và hoàn toàn kiên định trong khát khao không bao giờ ngủ quên trên những vinh quang quá khứ.

“Viết nhạc với tôi như ngồi chờ đợi được giao hàng đến,” (chắc là anh ấy muốn nói đến sự bồn chồn, sốt ruột mong ngóng – chú thích của người dịch) anh ta từng nói 1 lần khi tôi hỏi tất cả những cái này đến từ đâu. “Luôn luôn có 1 cái gì đó…biết đâu nó sẽ biến mất 1 ngày nào đó? Lúc đó thì tôi có thể bỏ cuộc và đi làm vườn hay gì đấy.’ Cậu chàng tiu nghỉu trước khi yên lặng quay trở về với cuộc trò chuyện. “Nhưng nói thật với anh, tôi làm gì có thời gian mà lo chuyện đó.”

Dịch bởi indieglory – Saigon, 06.05.2016 

 Nguyên gốc bài viết của Matt Wilkinson: http://www.nme.com/features/who-is-alex-turner-the-full-nme-cover-feature

Đầu xuân viết 1 chút về rượu whisky của Suntory.

Đầu xuân khai trương cái blog 1 chút cho cả năm bớt ế ẩm J. Suốt năm rồi chẳng viết được mấy bài. Năm nay hy vọng sẽ bớt lười một tí.

Năm nay khai trương sẽ là 1 chủ đề hoàn toàn mới, không phải âm nhạc phim ảnh tình cảm mà sẽ là về….rượu whisky.

Tôi bắt đầu thích tìm hiểu các loại rượu từ khi còn nhỏ, lúc xưa hay đọc mấy cuốn Kiến thức ngày nay, thường có bài viết về rượu cognac. Thời thập niên đầu 90, ở Sài Gòn vẫn còn chuộng các loại brandy/cognac Napoleon, Rémy Martin… Sau này thì mới đến rượu vang và gần đây thì dân sành uống mới tìm hiểu nhiều về whisky.

Đối với tôi, là đàn ông thì chỉ cần biết và uống whisky là đủ J. Tôi bắt đầu thích whisky từ khoảng năm 2010, khi đọc nhiều truyện của Haruki Murakami. Lúc đó chỉ biết uống linh tinh vài loại blended scotch & bourbon quen nhãn. Đến năm 2013 tôi mới bắt đầu tìm hiểu và dành thời gian thử uống những loại single malt và bây giờ thì thật sự ‘mê’.

Hôm nay tôi sẽ dịch 1 bài viết từ tạp chí Conde Nast Traveler, viết riêng về whisky Nhật nói chung và whisky của nhà Suntory nói riêng, nhân dịp năm mới đang uống Hibiki 17yrs phiên bản giới hạn, và cũng thấy kha khá các bạn quen thích whisky của Nhật.

Bài viết nhan đề ‘Whisky Nhật Bản đã đánh chiếm thế giới như thế nào?’ viết bởi Meredith Bethune, xuất bản ngày 20 tháng 07 năm 2015.

Ngành công nghiệp whisky Nhật đang sản xuất ra những sản phẩm đánh bại chính những sản phẩm truyền thống lâu đời của người Scotland. Một chuyên gia trong ngành sẽ chia sẻ về việc họ đã làm điều đó ra sao.

Shinjiro Torii mở nhà chưng cất whisky Nhật đầu tiên ở vùng Yamazaki, 1 vùng đất nằm giữa Kyoto và Osaka vào năm 1923. Trong thời đại mà hầu hết người Nhật chỉ uống rượu sake, nhà doanh nghiệp đầy tầm nhìn này đã biến 1 cửa hàng nhỏ chuyên bán rượu vang nhập khẩu thành một công ty thành công với cái tên Kotobukiya, mà sau này đổi tên thành Suntory. Ông ta đã tin tưởng vào bước đi tiếp theo của mình là mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang việc làm rượu và phân phối rượu whisky ở Nhật Bản. Nhưng khi đó, chính ông cũng chưa bao giờ mong đợi sẽ có một ngày sản phẩm của mình có thể đánh bại được đất nước sản sinh ra thứ nước màu vàng hổ phách này, Scotland. Nhưng năm 2014 vừa rồi, Jim Murray, một nhà phân tích và đánh giá whisky được ngưỡng mộ hàng đầu thế giới, đã trao danh hiệu ‘Whisky mạch nha đơn ngon nhất thế giới’ cho chai whisky Yamazaki Single Malt Sherry Cask 2013.

Chai Yamazaki Sherry Cask 2013 giờ đây đã trở thành 1 của quý hiếm.

Tôi đã may mắn được thưởng thức 1 shot Yamazaki Sherry Cask 2014 (năm 2014 chứ không phải 2013, 2013 bây giờ không thể tìm đâu ra hàng mà uống nữa rồi) vào đầu năm ngoái ở quán bar chuyên về whisky, The Auld Alliance tại Singapore. Và đối với tôi, đó thật sự là ‘the most wonderful whisky I have ever tasted in my life’.

Đây chỉ là 1 góc của The Auld Alliance bar. Thiên đường của whisky ở Singapore.

Nhà chưng cất Yamazaki, sở hữu bởi hãng Suntory, mọc lên giữa một ngọn đồi xanh mướt, tô điểm xung quanh là những cánh rừng tre cao vút và đền thờ thần Shinto. Toạ lạc gần nơi từng là phòng trà xây bởi nghệ nhân Sen no Rikyu, một nghệ nhân chuyên về trà sống ở thế kỷ 16, người được vinh danh bởi đã đưa nghệ thuật trà đạo Nhật bản trở nên hoàn hảo. Ông đã bị mê hoặc bởi nguồn nước trong vắt và tinh khiết tuyệt đối dành cho việc pha trà. Torii sau đó cũng có cùng lý do để lập nên nhà chưng cất đầu tiên của mình ở Yamazaki. Năm 2015 đánh dấu lịch sử 92 năm thành lập nhà chưng cất này. Suntory hiện có khoảng 800 ngàn thùng whisky đang trữ và chừng đó vẫn chưa thể đủ cho nhu cầu ngày càng tăng trên toàn thế giới.

Nhà chưng cất Yamazaki nằm trên ngọn đồi

Makoto Sumita, General Manager of Quality Communication (không biết dịch chức danh này ra sao ?!), đã làm việc ở Suntory hơn 30 năm, bao gồm kiêm việc là người pha trộn và quản lý nhà chưng cất Yamazaki. Với vai trò là 1 chuyên gia trong ngành, ông chia sẻ về những điểm đã làm nên sự khác biệt của whisky Yamazaki so với phần còn lại của thế giới.

Makoto Sumita, chuyên gia whisky của nhà Yamazaki.

Shinjiro Torii đã bước vào một lĩnh vực chưa từng được khai phá trước đây ở Nhật Bản khi quyết định mở nhà chưng cất đầu tiên. Lý do vì sao ông ấy nhất định phải chọn Yamazaki để làm điều đó?

Có rất nhiều dòng sông chảy ra ngoài Kyoto là yếu tố rất quan trọng trong việc làm nên whisky Nhật. Chúng tôi có được nguồn cung cấp nước vô cùng tốt ở khu vực này.

Bên cạnh việc có được nguồn nước tốt, những yếu tố quan trọng khác nào trong việc làm rượu whisky?

Phải có một độ ẩm thích hợp bởi vì whisky sinh trưởng trong thùng gỗ qua rất nhiều năm. Ba dòng sông – Katsua, Uji và Kizu đều ở đây. Khi 3 dòng sông này gặp nhau, chúng mang đến cho vùng này thời tiết ẩm ướt. Nó vô cùng thích hợp cho whisky sinh trưởng. Ở đây cũng gần như không có tuyết rơi. Thời tiết mà khô quá thì không thích hợp cho việc ủ whisky trong thùng gỗ.

Người Nhật đã bắt đầu làm whisky từ năm 1924, nhưng người nước ngoài gần nhưng không quen thuộc với whisky Nhật cho đến gần đây. Thời điểm này thì khách hàng bên ngoài Nhật Bản mới bắt đầu quan tâm đến whisky Yamazaki?

Trước năm 2003, rất ít người biết chúng tôi đang làm whisky ở Nhật, nhưng gần đây thì chúng tôi có ‘fans’ trên toàn thế giới. Giải thưởng đầu tiên mà chúng tôi có được là huy chương vàng ISC (International Spirits Challenge) cho chai Yamazaki 12 năm vào năm 2003 và đến năm 2010 thì được trao tiếp lần nữa. Bắt đầu từ đó mọi người mới thưởng thức whisky của chúng tôi. Giờ đây chúng tôi có hơn 130 ngàn lượt khách viếng thăm nhà chưng cất Yamazaki hàng năm và hơn 10% trong đó là đến từ nước ngoài.

Những người làm whisky phải ước lượng được nhu cầu cho sản phẩm của mình nhiều năm trước khi bắt đầu quá trình ủ rựou. Suntory đang làm gì để giải quyết nhu cầu đang tăng vọt từ những thị trường nước ngoài?

Gần đây nhu cầu tăng cao và chúng tôi đã ra mắt 4 tĩnh chưng cất mới 1 năm rưỡi trước. Chúng tôi đang làm việc với hơn 100% công suất để có thể đáp ứng được nhu cầu.

Whisky Scotland nổi tiếng với việc kết hợp nguồn rượu từ những nhà chưng cất khác nhau để tạo nên sự đa dạng. Nhưng Suntory thì chỉ mới có 2 nhà chưng cất (nhà chưng cất kia là Hakeshu, nơi cho ra đời nhãn hiệu Hakushu, nằm ở phía Tây Tokyo). Làm cách nào ông có thể tạo ra được sự đa dạng về hương vị?

Hầu hết ở Scotland và thậm chí ở Nhật, khi bạn đến thăm 1 nhà chưng cất bạn sẽ thấy các tĩnh đồng chưng cất (thiết bị dùng để chưng cất nên rượu) đều có 1 hình dạng giống hệt nhau. Nhưng ở Suntory, tất cả các tĩnh chưng cất đều hơi khác nhau 1 chút. Suntory chỉ có 2 nhà chưng cất, nhưng chúng tôi vẫn làm ra được nhiều loại whisky khác nhau bởi vì sự khác nhau của những tĩnh chưng cất và sự khác biệt của rất nhiều loại thùng gỗ chứa. Hơn 90% whisky được chứa trong thùng gỗ sồi trắng của Mỹ, nhưng Suntory còn chứa trong thùng gỗ sồi Nhật mizunara và thùng gỗ chứa rượu sherry. Thậm chí chỉ riêng cho loại whisky mạch nha đơn Yamazaki thôi thì chúng tôi đã dùng những tĩnh chưng cất khác nhau, và thùng gỗ có kích thước lẫn loại gỗ khác nhau, nhưng chất lượng thì vẫn đồng nhất vì nó chỉ đi ra từ 1 nhà chưng cất mà thôi.

Nói thêm trên điểm này, thì ông nghĩ có phải whisky mạch nha đơn (single malt whisky) luôn có chất lượng vượt trội hơn so với whisky pha trộn (blended whisky)?

Tôi thì thích cả 2 ;). Whisky làm từ các loại hạt thường được dùng để pha trộn tạo nên blended whisky, và nó có vị ngọt hơn. Nó rất thích hợp cho những người mới bắt đầu. Whisky pha trộn thường có vị cân bằng, êm dịu và mềm mại trong khi whisky mạch nha đơn thì sẽ cá tính, mạnh mẽ và thường ẩn chứa nhiều vị khói.

Và whisky càng lâu đời (nhiều tuổi) thì càng ngon hơn?

Nhiều người tin rằng càng nhiều thì càng ngon hơn, tuy nhiên điều đó không phải lúc nào cũng đúng. Nó còn tuỳ thuộc vào loại thùng chứa. Một vài loại whisky trở nên ngon hơn khi sinh trưởng, nhưng 1 vài loại khác thì lại dở đi. Người pha trộn phải nếm thử từng thùng và sẽ quyết định loại whisky nào thích hợp với loại thùng nào. Hiện tại thì không có 1 quy luật nào cho việc ủ whisky ở Nhật Bản.

Note của cá nhân tôi: tôi đã từng kiểm chứng bằng việc thử 2 chai, 1 chai The Balvenie 15 tuổi single cask (whisky mạch nha đơn của nhà The Balvenie được ủ trong 1 loại thùng nhất định, không pha trộn các loại thùng với nhau) với 1 chai The Balvenie 21 tuổi Portwood (pha trộn 3 loại thùng và hoàn thiện sau cùng là thùng chứa rượu Port) thì cá nhân tôi vẫn thích chai 15 tuổi hơn, cá tính nhiều hơn ;).

Chai The Balvenie 15yrs Single Barrel được đóng chai và viết tay số lượng trên từng nhãn chai.

Yamazaki đã đoạt rất nhiều giải thưởng và được ghi nhận trên toàn cầu. Đâu là mục tiêu tương lai của nhà chưng cất này?

Mục tiêu của chúng tôi là tiếp tục hoàn thiện và tinh luyện, luôn luôn cố gắng làm rượu tốt hơn những gì chúng tôi làm ra cách đây 10 năm. Chúng tôi luôn cố gắng mang những cải tiến và phát minh vào trong những gì mình làm. Quy trình chế biến và làm ra whisky trên toàn thế giới gần như chẳng hề thay đổi qua bao nhiêu năm, nhưng ở Suntory chúng tôi luôn cố gắng thêm vào 1 chút gì đó mới.

Nguồn: http://www.cntraveler.com/stories/2015-07-20/how-yamazaki-japanese-whisky-is-taking-over-the-world

Saigon, Xuân Bính Thân 2016.

Ghi chép vụn. 

Bảy trăm năm sau, tôi hãy còn nhớ. Bảy trăm năm như một thời quán. Bảy trăm năm trôi vụt, mà những lời tâm huyết của Chu Văn An hãy còn vang trên mặt Thái hồ. Làm như thầy muốn mặt hồ phong phải giữ lấy dư âm, để lớp rêu ẩm xanh rì còn giữ được lời thầy. Truyền cho hậu thế. Để mai này hậu thế biết ngày xưa, ở Quốc Tử Giám, các tôn sư đã dạy học như thế nào. Văn Miếu, nơi thầy được tòng tự. Văn Miếu, nơi tiếng thầy sang sảng: Chữ thầy là chữ thật. Lời thầy là lời thật. Thầy dạy sao, thầy sống vậy. Mai này ra làm quan phải nhớ lời thầy dạy. Tiếng Chu Văn An sang sảng, nghiêm khắc: Thầy dạy những gì, môn sinh đã biết. Cấm tham ô. Cấm cửa quyền. Thấy sai phải cất tiếng. Không trái với lương tri mình. Đó là những lời cuối, trước khi Văn Trinh Công rời Văn Miếu Môn.

Trích “Phép Tính Của Một Nho Sĩ” – Trần Vũ. Đặc san văn học “Quán Văn”, tập 3 tháng 12, 2011. 

Quán Văn nhiều truyện ngắn tuyệt hay. 

Buổi sáng.

Đọc bài thơ này mình nhớ đến những buổi sáng ngồi Era vào những ngày cuối năm. Trời hơi se se lạnh, nắng chiếu qua những tán cây ngoài đường Trần Quốc Thảo. Cafe ngọt và thuốc lá thơm… Những buổi sáng chầm chậm, nhẹ nhàng, không vội vã.

Buổi sáng – Phan Ngọc Thường Đoan

Những gương mặt người
Quen và không quen
Những giọt cà phê muôn đời đen nhánh
Tiếng chim khua vỡ buổi sáng lạnh
Gõ thức mặt trời
Em ngồi một mình
Khuấy loãng thời gian
Buổi sáng muốn gọi anh
Nắng nói lời mê ngủ
Gió se lạnh chối từ
Quàng nỗi nhớ chạy quanh chiếc bàn nhỏ

Bản giao hưởng đêm qua còn phảng phất trên phím dương cầm
Người đã vội quên cung bậc cuối
Nụ hôn nửa vời
Trái tim không cửa
Ai hờ hững xéo lên lá cỏ

Buổi sáng ngồi một mình
Không quen những nụ cười lạ
Em đậm đặc với nắng thu mưa hạ
Tan cùng tàn đông
Lòng bàng hoàng luyến tiếc níu vạt áo xuân
Đã chậm mất nửa mùa cuối cùng

Khói thuốc cay và cà phê đắng
Cơn đau màu men ngà
Buổi sáng ngồi một mình
Uống cạn kiệt
lạ
quen!

‘Being There’ – Wilco (1996)

‘Being There’ là album nhạc thứ 2 trong sự nghiệp của Wilco, nhóm nhạc Alternative rock đến từ Chicago, Illinois U.S. Album được xem là 1 sự tiến bộ của nhóm cả về mặt doanh số bán đĩa lẫn nhận định từ giới phê bình, so với album ‘A.M’ trước đó.
Được đặt theo một bộ phim cùng tên ‘Being There’ năm 1979, album này là một nỗ lực tự sản xuất với nhiều những ca khúc mang màu sắc siêu thực và nội tâm hơn trước.

Being There – Wilco

Wilco được thành lập năm 1994 sau những bất đồng về mặt sáng tạo giữa Jeff Tweedy và Jay Farrar dẫn đến sự tan rã của nhóm alternative country Uncle Tupelo.
Những ý niệm đầu tiên tạo nên chất liệu cho ‘Being There’ đến từ một khoảng thời gian áp lực nhất định trong cuộc sống của Tweedy. Tweedy lúc đó mới bỏ hút cần sa, lượng khán giả đến các buổi diễn của band thì ngày càng thưa thớt. Tweedy cũng đang xoay sở để cứu vãn cuộc hôn nhân trong bối cảnh nợ nần cầm cố và 1 đứa con nhỏ mới chào đời.

Jeff Tweedy

Với ‘Being There’, Tweedy muốn trộn lẫn những trải nghiệm của anh ở góc độ một nghệ sĩ sáng tạo âm nhạc lẫn 1 người nghe nhạc bình thường. Ca khúc đầu tiên Tweedy viết trong album này là bản ‘Misunderstood’, bản nhạc về một người nghệ sĩ âm nhạc “bị dằn vặt” từ góc nhìn của một người hâm mộ. Ca khúc chứa đựng những dẫn chứng công khai về việc tan rã của Uncle Tupelo, bao gồm cả những từ ngữ sỉ nhục mà Farrara đã từng dùng để chỉ trích Tweedy, đặc biệt là từng gọi Tweedy bằng cụm từ ‘mama’s boy’. Sự ‘hỗn loạn’ của album này được thể hiện ngay từ phần mở đầu của ca khúc ‘Misunderstood’ với một nền thanh âm đầy tiếng nhiễu của guitar và trống. Nhưng ngay sau đó là 1 nền keyboard nhẹ nhàng với giọng hát trầm ấm của Tweedy, như lời tâm sự của 1 người đàn ông cô độc bên khói thuốc lá trong góc 1 quán bar buổi đêm ồn ào.

Wilco

Chủ đề về ‘người nghệ sĩ bị dằn vặt’ còn xuất hiện trong nhiều các ca khúc khác của album. Cái kết trong ca khúc ‘Sunken Treasure’ với tiếng kêu của Tweedy như một sự hồi tưởng với những tháng năm tuổi trẻ cháy hết mình cùng nhạc punk.

Sự phân chia về phong cách âm nhạc trong album này khá rõ ràng, thể hiện qua các ca khúc như ‘Hotel Arizona’, ‘Sunken Treasure’ và ‘Misunderstood’ mang những ngôn ngữ riêng và màu sắc siêu thực hơn khi đặt cạnh cùng những bản nhạc vẫn âm hưởng bởi country rock như ‘The Lonely 1’ và ‘Far Far Away’. Không giống như ‘A.M’ là album nhạc hướng đến người nghe trên radio, với ‘Being There’, Wilco không hề có ý niệm nào về việc album này sẽ sản sinh ra những bản hits trên sóng phát thanh.

Radiohead – ‘Ok Computer’

Radiohead – Ok Computer

Cách đây 1 ngày, ngày 25.03.2015, những ai yêu mến Radiohead đã đón nhận 1 thông tin rằng Hội đồng Thư viện Hoa Kỳ đã chính thức lựa chọn album ‘Ok Computer’ của nhóm vào hạng mục lưu trữ ghi âm của Thư viện quốc gia.

Hạng mục lưu trữ ghi âm của Thư viện quốc gia Hoa Kỳ là nơi lưu giữ những bản nhạc, bản ghi âm, bản phát thanh và tư liệu đã nắm bắt được lịch sử văn hoá của nước Mỹ, đồng thời là những phát kiến hay tiến bộ về mặt kỹ thuật thu thanh.

‘Ok Computer’ poster

Điều này đồng nghĩa rằng album ‘Ok Computer’ giờ đây đã trở thành tài sản của nước Mỹ, của người dân Mỹ và được lưu trữ và bảo tồn, gìn giữ để cho mục đích nghiên cứu, học thuật ở hiện tại và lưu truyền cho hậu thế sau này. Nên nhớ ‘Ok Computer’ là 1 album nhạc được sản xuất ở Anh do 1 ban nhạc 100% Anh quốc làm ra nhé. Người Mỹ lòng tự tôn dân tộc rất cao, và họ gần như chẳng bao giờ để cho 1 tài sản được sản xuất ở 1 quốc gia khác nằm trong di sản lịch sử và văn hoá của mình.

‘Ok Computer’ được nhận định là một album nhạc mang tầm vóc lịch sử với dấu ấn văn hoá và thẩm mỹ nhất định. Đồng thời, đề tài mà album nhạc này mang đến ở thập niên 90s vẫn đang phản ánh nỗi muộn phiền của hiện tại: thời đại của chủ nghĩa tiêu dùng, kỹ thuật số, máy tính, công nghệ, sự xa lánh về mặt xã hội thật và sự cô độc cùng những ảo tưởng.

Câu chuyện của tôi với ‘Ok Computer’ là nhiều những mẩu chuyện vụn vặt. Mà bắt đầu là từ năm 1998, một năm sau khi album ra mắt, Radiohead thắng giải Grammy cho hạng mục ‘Best Altenative Music’. Năm đó, tôi đang điên cuồng say mê Backstreet Boys. Và tôi đọc đâu đó trên 1 tờ tạp chí âm nhạc, họ ngợi ca những gì Radiohead đã làm được với ‘Ok Computer’ là ‘cuộc cách mạng’. Nhưng tôi chẳng hiểu gì cả.

Radiohead năm 1998

Đến năm 2004, là lúc tôi bắt đầu nghe Rock được khoảng 2 năm thì tôi đang mò mẫm với Alternative music. Và trong 1 lần lục lọi đọc những bài viết về nhạc Alternative trên diễn đàn Trái Tim Việt Nam Online, tôi đã đọc 1 bài review rất hay về ‘Ok Computer’. Bài review với đại ý rằng ‘Ok Computer’ là 1 album nhạc phi thường, nó vượt ra khỏi những khuôn thước và khác biệt hoàn toàn so với dòng Britpop mà các band nhạc Alternative của Anh vẫn hay chơi thời đó. Và hơn thế nữa, một khi mình đã thật sự nghe và thích nó, thì nó sẽ là 1 hành trình đưa mình đến những trải nghiệm không ngờ. Một hành trình mà bạn sẽ phải đánh mất mình, để tìm lại mình.

Và sự thật album này chính là như vậy. Ngày đó tôi không hiểu rõ lắm, nhưng tôi đã có những buổi tối nghe Ok Computer miệt mài và cũng chỉ cảm nhận được nó là 1 cái gì đó rất … lạ lùng và hỗn mang, giống như … vũ trụ vậy.

Cho đến sau này, khoảng từ năm 2008, tôi nghe lại ‘Ok Computer’ và bắt đầu cảm nhận được nhiều hơn. Một cái cảm giác lúc nào cũng là hướng vào sâu bên trong. Không bao giờ là kiểu muốn bung ra bên ngoài. Cảm giác như trong lòng mình có 1 cái giếng thật sâu, mình chỉ muốn leo xuống đến tận cùng, ngồi ở dưới cái đáy tối tăm đó, mà lắng nghe và thở. Lúc đó chỉ có mình với bản ngã của chính mình. Không còn 1 thứ gì có thể tác động đến mình nữa. Sợ hãi, hoang mang, dằn vặt… tất cả sẽ tự bộc lộ ra hết thảy.

Sau này khi tìm hiểu tôi mới biết chính bản thân Radiohead cũng rất can đảm và nỗ lực hết mình để tự giải thoát họ khỏi những gì họ đã tạo ra ngay trước đó. Đó là thành công ngoài mong đợi của album ‘The Bends’ (tôi cũng vô cùng thích The Bends).

Radiohead đã dám tự mình sản xuất toàn bộ album ‘Ok Computer’ với 1 producer hoàn toàn mới là Nigel Godrich (người sau này đuợc xem là thành viên thứ 6 của ban nhạc) ở 1 toà nhà như 1 cái biệt thự ở vùng hẻo lánh, cách xa thành phố. Và họ thử nghiệm hết cái này đến âm thanh khác. Cả về lời hát lẫn giai điệu, ý tứ nhạc, cách hoà âm phối khí. Một cuộc lột xác.

Có thể nói ‘Ok Computer’ là một album không chỉ tuyệt vời hơn hết thảy nếu so với những album Alternative ở cùng thời đại 1990s, mà những gì nó đặt ra đã khiến Radiohead đi từ cuộc cách mạng này đến những sáng tạo to lớn khác. ‘Kid A’ nối tiếp sau đó là 1 minh chứng cho thấy họ không dừng lại.

Nếu đi sâu tìm hiểu thì bản thân ‘Ok Computer’ giống như 1 cuốn tiểu thuyết nho nhỏ với rất nhiều những câu chuyện ẩn đằng sau đó. Từ việc vẽ bìa đĩa và các artworks, cho đến lời hát, rồi những nguồn cảm hứng về âm nhạc hay và những diễn giải về những ẩn dụ, ẩn nghĩa ở trong album.

Và ‘Ok Computer’ đã gây một ảnh hưởng sâu sắc đến âm nhạc Britpop thời bấy giờ, mở ra cánh cửa để những ban nhạc thế hệ kế tiếp sau đó kế thừa và phát huy một cách mạnh mẽ hơn: Coldplay, Bloc Party, TV on The Radio, The Verve… là một trong số đó.

Chris Martin, frontman của Coldplay, đã từng phát biểu sau sự kiện ngày 11.09 rằng: “Nó sẽ rất là thú vị khi có thể nhìn thấy thế giới khác đi như thế nào nếu Dick Cheney (phó tổng thống Mỹ thời bấy giờ) thật sự nghe ‘Ok Computer’. Tôi nghĩ thế giới rất có thể sẽ tiến bộ hơn. Album nhạc đó tuyệt vời chết mịe (fucking brilliant). Nó đã thay đổi cuộc đời của tôi, vậy thì tại sao nó không thể thay đổi cuộc đời ông ta nhỉ?”

Và tôi nghĩ, theo 1 cách nào đó, ‘Ok Computer’ cũng đã thay đổi cuộc sống của tôi, thay đổi cách tôi nhìn nhận và cảm nhận về âm nhạc.

Ở tận cùng, tình yêu là tất cả.

Tôi chỉ mới xem ‘Interstellar’ đến lần thứ 2. Có lẽ vẫn chưa thể nào đủ để viết ‘một cái gì đó hoành tráng’ về bộ phim này. Nhưng viết đôi chút thì có lẽ là có thể.

BÀI VIẾT CÓ TIẾT LỘ NỘI DUNG PHIM. VUI LÒNG CÂN NHẮC KHI ĐỌC TIẾP.

Chúng ta sẽ không thể nào cứu Trái Đất, việc Trái Đất phải tận thế được lồng gọn trong 1 câu nói của định luật Murphy: ‘điều gì phải xảy ra thì sẽ phải xảy ra’. Tất yếu sẽ là như vậy.

Nhưng sự tận thế không đến ngay lập tức, mà nó đến 1 cách từ từ, kéo dài, bằng những sự thay đổi từ những yếu tố tự nhiên trước: không khí ngày càng ít đi, chỉ còn lại đa số là nito, nấm mốc ngày càng nhiều, thực phẩm khan hiếm, bão cát bắt đầu, năng lượng cạn kiệt… Nolan đã dành cả hơn 1/3 đầu phim để khiến người xem cảm thấy sự kéo dài lê thê và bức bí này. Và hành trình cùng thời gian, không gian bắt đầu từ đây.

Thời gian và không gian là 2 yếu tố quan trọng nhất, đối với bất kỳ 1 cuộc du hành nào. Và nhất là du hành đến những vì tinh tú thì 2 yếu tố này lại quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Thời gian ở hành tinh này, thuộc hệ này là 1 năm thì ở hành tinh khác, thuộc hệ khác sẽ là 10 năm. Không gian thì bao gồm có hành tinh, hệ Mặt trời, hố đen, không gian 3 chiều, 5 chiều…

2 yếu tố đó trong bộ phim này, không đơn thuần là bối cảnh, mà đóng vai trò như 2 nhân vật, được Nolan thể hiện đầy sống động. Từ việc diễn giải thuyết tương đối của thời gian, cho đến việc đưa thời gian trở thành 1 cái ‘chìa khoá’ trong mối quan hệ giữa nhân vật Cooper với con gái mình, giữa quá khứ kết nối với hiện tại rồi tương lai của các nhân vật trong film. Tương lai sẽ đến từ những gì ta làm trong hiện tại. Và quá khứ là điều mà ta không thể nào thay đổi được nữa. ‘Họ không gửi chúng ta đến đây để thay đổi quá khứ, để cứu lấy trái đất. Chúng ta tự mang chúng ta đến đây. Để thay đổi tương lai.’

Còn với không gian, thì quả thật Nolan đã bỏ công sức ra quay trên chính bối cảnh thật, hạn chế việc sử dụng phông xanh hay kỹ xảo, với mục đích là để chính diễn viên được sống thật trong không gian đó, và người xem, cuối cùng sẽ cảm thấy như mình đang đứng ở đó, ngay tại đó, trong chuyến hành trình. Từ không gian nhỏ bé chật hẹp trên tàu vũ trụ, tới những không gian bao la rộng lớn của các hành tinh, hay không gian huyền bí và mênh mang vô định ở trong lỗ đen, ngoài vũ trụ… Với tư cách là một người xem, tôi đã thật sự cảm thấy được 2 yếu tố đó 1 cách trọn vẹn nhất.

Giờ thì hãy nói về ý nghĩa thật sự của bộ phim. Đầu tiên phải khẳng định rằng đây là 1 phim dựa trên nền tảng khoa học viễn tưởng. Tuy nhiên Nolan, như cách ông vẫn làm phim từ trước đến nay, không bao giờ làm bừa, mà thật sự đã có 1 nhà vật lý lý thuyết chuyên về vật lý vũ trụ tham gia vào quá trình tư vấn và sản xuất của bộ phim, để giúp cho bộ phim bám sát với lý thuyết khoa học nhất có thể, đó là Kipp Thorne. Không chỉ có Kipp Thorne, mà 1 nhà sản xuất quan trọng khác của Interstellar là Lynda Obst, là người đã từng tham gia sản xuất 1 phim cũng về đề tài viễn tưởng, cuộc sống ngoài Trái đất là phim ‘Contact’ năm 1997, cũng có Matthew đóng vai chính. Trùng hợp chăng?!

Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì vẫn phải khẳng định rằng đây là 1 phim khoa học viễn tưởng, chứ không phải là phim tài liệu về khoa học vũ trụ hay vật lý, nên những vấn đề đặt ra trong phim như lỗ đen, hố sâu … có thể đúng hoặc không không phải là điều quan trọng nhất.

Quan trọng nhất là, Nolan đã kết hợp những yếu tố đó lại với nhau, để tạo nên 1 hành trình về mặt trải nghiệm cho người xem, để dẫn đến kết thúc cuối cùng là: ‘Ở tận cùng, tình yêu là điều cuối cùng quan trọng nhất. Tình yêu là thứ duy nhất dẫn chúng ta vượt qua cả không gian lẫn thời gian. Tình yêu là thứ cho chúng ta lòng can đảm, để bước chân vào nơi tăm tối nhất, vô định nhất, để hòng tìm kiếm điều mà con tim mách bảo.

Ở trong phim, khi Cooper rơi vào hố đen và lọt vào không gian 5 chiều, cái mà theo giả thuyết là do ‘họ’ tạo ra, thì điều này phân tích ở góc độ logic thực tế thì sẽ thấy khá hoài nghi, nhưng ở 1 khía cạnh khác phi logic thì lại thấy hợp lý.

Đó là, ta vẫn thường hay có câu ‘Cám ơn Người/Chúa/Trời/Thánh đã mang con đến đây, cho con gặp được người này…’ Chẳng phải ta thường nói là, mọi sự trong cuộc đời gặp nhau là bởi duyên trời định, số phận đặt ra đó hay sao? Duyên số hay gì đó, chẳng phải là do ‘tạo hoá’ sắp đặt đấy à? Nhưng tạo hoá nào thì cũng phải đi ra từ chính con người. Suy nghĩ của con người, tạo nên từ trái tim, từ não bộ, có 1 sức hút vô cùng mạnh. Ta nghĩ đến ai mãi, thì lúc nào đó tự nhiên sẽ gặp. Ta nghĩ đến việc gì suốt, mong mỏi điều gì đủ nhiều, tự ta sẽ tìm cách làm cho được điều đó.

Và quay lại ở đây, chính tình yêu to lớn của Cooper dành cho con gái đã khiến bước lên cuộc du hành, rồi bị hút vào cái không gian đó, để gặp lại cô bé, truyền cho cô bé thông điệp để cho bước tiếp theo. Hay như Brand, chính tình yêu của cô dành cho Edmund đã dẫn cô đến với hành tinh nơi anh ta phát đi tín hiệu, và đó mới chính là thế giới tương lai của loài người sau Trái Đất.

Bộ phim, còn là rất nhiều những chất liệu mà ta sẽ bắt gặp, ở những tác phẩm mà Nolan đã từng làm: ‘The Dark Knight’, ‘Inception’… chẳng hạn như lý luận, ‘liệu rằng, ở tận cùng, thì yếu tố sinh tồn sẽ là mạnh nhất, là cái chiến thắng mọi thứ?’ Có thể là không. Sinh tồn có thể giúp anh chiến thắng hay vượt qua ở 1 giai đoạn nào đó, nhưng đó không phải là yếu tố thúc đẩy sự tiến bộ hay phát triển của nhân loại.

Tóm lại, với Interstellar, tôi hoàn toàn thoả mãn về phần nghe, nhìn và nhất là cảm xúc. Câu chuyện có thể không thuyết phục 100%, nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất.

Quan trọng nhất là, ‘ở tận cùng, tình yêu tạo nên tất cả.

À và, chúng ta sẽ không thể nào một mình làm nên mọi chuyện được đâu, cần phải có 1 đội hay ít nhất, là phải có bạn đồng hành cùng làm nên chuyện đó. Như Cooper có Tars hay Brand vẫn ngày ngày đợi chờ 1 ai đó đến tìm cô vậy đó ;).

 

P.S: Bài viết chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót và nhiều khía cạnh chưa đề cập đến của bộ phim. Vì thế rất mong nhận được đóng góp của các bạn J.