Coldplay: ‘We Are The Best Fucking Band In The World’.

Tạp chí Thể Thao, Văn Hoá & Đàn Ông số tháng 12, 2011, tôi viết 1 bài về Coldplay cho chuyên mục Âm nhạc với tựa đề: ‘Chúng Tôi Là Ban Nhc Tuyt Vi Nht’.

Tạp chí âm nhạc Q của U.K, số tháng 1, 2012, tổng kết lại 1 năm âm nhạc thế giới 2011, Coldplay và album ‘Mylo Xyloto’ đứng vị trí thứ 5 trong 50 tiêu điểm albums & nghệ sĩ của năm qua.

Bài viết trên Q với tiêu đề: ‘We Are The Best Fucking Band In The World’, viết về những gì Coldplay đã trải qua, mà chủ yếu là về frontman Chris Martin.

Đây thật sự không phải là 1 sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà thật tình là tôi đã tiên đoán trước rằng hẳn nào năm 2011 cũng phải là năm của Coldplay, chính vì vậy bài viết này là để dành cho họ và dành cho những ai yêu Coldplay trong suốt 1 khoảng thời gian dài, cho những ai muốn tìm hiểu về Coldplay nhưng chưa có điều kiện.

Một buổi chiều thứ 2 tại lễ trao giải Q Awards 2011, Coldplay xuất hiện trên thảm đỏ chỉ 10 phút trước khi buổi lễ diễn ra. Trước khi tiến vào khu vực sảnh để giới báo chí chụp hình, Coldplay nhìn thấy U2 bước ngang qua. Bono chẳng hề để ý gì đến nhóm cho đến khi Chris Martin cất tiếng gọi, với 1 giọng Ai-len không thể nào nặng hơn, ‘I loike your band. I do.’ Bono mỉm cười và đưa tay chào nói, ‘Mt ngày nào đó tt c nhng cái này s là ca các cu thôi.’

Lời nói của Bono chỉ là đùa chơi nhưng sự thật thì, giờ đây tất cả mọi thứ đều là của Coldplay rồi.

Nhớ lại thời điểm năm 2000, khi Coldplay mới cho ra single đầu tay ‘Yellow’, nhóm đã có buổi ra mắt trước số đông công chúng tại Glastonbury. Và Chris Martin đã có phát biểu đại loại rằng: ‘Chúng tôi là Coldplay. Chc hn đa s mi người vn chưa biết đến chúng tôi đâu nhưng rt vui khi thy các bn đến xem chúng tôi chơi, ngay trước khi chúng tôi tr thành hàng khng c như Bon Jovi…‘ Đó cũng chỉ là 1 lời nói giỡn cho vui, nhưng 11 năm sau, sự thật giờ đây còn hoành tráng hơn thế nữa. Giờ đây không thể nào so sánh Coldplay với Bon Jovi, mà phải đặt họ lên bàn cân với U2. Cho dù Chris Martin có thành thật nói rằng: ‘Khi ln đầu tiên được gp Bono, tôi đã nghĩ ‘Whoah, sao ging như người ngoài hành tinh đang nói chuyn vi mình quá vy’.

Coldplay giờ đây là ban nhạc trẻ nhất trong lịch sử 41 năm của Glastonbury có được vinh dự mời tham gia lễ hội âm nhạc này với vị trí headliner 3 lần. 3 nghệ sĩ còn lại đều là những cây đại thụ của làng âm nhạc: The Cure, Van Morrison và Elvis Costello.

Và lúc này, Coldplay đang chuẩn bị bước lên để nhận giải: ‘Best Act In The World Today’ của Q. Một lúc sau đó, một cách đầy bất ngờ, ta thấy Tom Meighan của Kasabian lại chào Chris với 1 cái ôm đầy mừng rỡ: ‘Tôi yêu ban nhc ca cu đấy.’ Đáp lại 1 cách sững sờ, Chris nói: ‘Tôi tưởng các cu ghét ti này ch.’ Meighan hỏi lại, thất kinh không kém: ‘Ai nói vy??? Hoàn toàn di trá. Tôi yêu band ca cu mun chết. Thng thn đó, ku.’

Q sau đó đã đến gặp và phỏng vấn Chris tại studio ‘The Bakery’ của Coldplay ở phía bắc London. Nơi mà mùa hè vừa rồi, Q đã viếng thăm để trò chuyện với Chris về những albums mà anh yêu thích cho số kỷ niệm sinh nhật lần thứ 25th của ấn phẩm. Lúc đó Chris chưa hề thoải mái để chia sẻ về album mới chút nào. Và trên cái bảng trắng phía sau đầu của anh ta, không lâu trước đây là một rừng những tựa đề các ca khúc và những cái tên tiềm năng cho album. Will Champion (tay trống của band) đã giải thích rằng mỗi khi ra 1 album thì ‘vũ khí’ duy nht ca c nhóm chính là s lo âu’. Mỗi khi ra một album nhạc là một lần Chris vắt đến cạn kiệt sức sáng tạo của mình, đến nỗi anh nghĩ chẳng bao giờ mình có thể làm cái tiếp theo được nữa, và như vậy những câu chuyện đồn đại kiểu ‘Coldplay sẽ tan rã?’ lại có dịp xuất hiện.

‘Nó tht s là như vy đấy’, với đôi mắt xanh mở to, Chris nói: ‘Mt đĩa nhc là mt li khng định v nhng gì tôi cm thy, tri qua trong cuc sng. Tôi luôn c gng làm tt c nhng gì có th đối vi mi album, để đến khi hoàn tt thì tôi thy mình hoàn toàn chng còn li gì na c.’

Điều đặc biệt ở Chris là, từ những ngày đầu tiên, anh đã thẳng thắn về việc mình là con trai của một kế toán viên ở Devon, và đến tận tuổi 22 anh chàng vẫn còn … là trai tân nguyên xì :D. Hoàn toàn chân thật, không chút nào ra vẻ gì hết. Và không như những ngôi sao nhạc Rock khác, Chris không xây dựng mình thành một nhân vật để trưng ra cho thế giới và chính vì vậy, anh cũng chưa bao giờ mô tả mình như là 1 Rock star.

‘Bn không th nào t tô v lên cho mình bi vì người khác s nhn ra ngay là bn không phi thế. Ti tôi (Coldplay) chng bao gi ‘cool’ c. Nhưng ti tôi có nhng bài hát, ti tôi viết nhng ca khúc mà có nhng người rt thích chúng. Và ti tôi thc s đang làm được như vy đó. Còn nếu ai nói rng ti tôi không th thì hãy … liếm m cái … cùi ch ca tui đi. Bi vì nhng gì h nói là v vn.’

Chris bức xúc cũng có lý do của nó, bởi vì vụ scandal liên quan đến đạo nhạc của ca khúc ‘Viva La Vida’ từ Joe Satriani, cho dù toà án đã bác bỏ cáo buộc của guitarist này, nhưng đó vẫn là một cú đánh mạnh vào lòng tự trọng và khiến sự nghiệp của Coldplay bị tổn thương nhất định.

Chris nhấn mạnh thêm, ‘Tôi chng quan tâm v nhng người ghét chúng tôi hay bo là chúng tôi hu hoi âm nhc n kia. Nhưng nếu ai đó buc ti chúng tôi vì nhng gì mà ti tôi không h làm, thì tôi ghét nó thy m. Thm chí ngay trong lúc t tin nht, tôi vn cm thy tn thương khi mà h nói chúng tôi không h viết ra ca khúc đó. Vì vây gi đây lúc nào tôi cũng trong tâm thế sn sàng ch đón nhng tai ho. Và nhng giây phút mà không có tai ho thì tôi tht s vô cùng hnh phúc.’

Q: Anh có phi là mt người đối lp v cm xúc hay không? Mi th ch có th hoc là tuyt vi hoc là hng bét?

Chris: Đúng thế. Ch có 2 thái cc mà thôi.

Q: Không có mt phn nào gia, nơi mà mi th ôn n hay sao?

Chris: Không. Tôi không làm nhng th ôn n.

Q: Lúc nào anh cũng như vy à?

Chris: Đúng. Tôi hoc có bn tht tt hoc là thà không có một người bn nào.

Q: S thành công thường khiến người ta có cái nhìn ti tăm hơn v thế gii xung quanh bi vì khi đó h bt đầu ng vc v động cơ ca nhng người xung quanh h. Điu đó có xy ra vi anh không?

Chris: Tôi có nhìn thế gii này tăm ti đi không y à? Không. Thay vào đó có th là mt cái nhìn rng m hơn v nhng thái cc khác nhau. Tôi đã đến nhiu nơi, nhìn thy nhiu th hơn. Tôi cm thy bt c đâu cũng có nhng điu tuyt diu, nhng con người tuyt vi và vì vy tôi có nhng cái nhìn tươi sáng hơn v h. Nhưng dĩ nhiên tôi cũng có nhng cái nhìn ti tăm hơn v nhng th loi khn kiếp, mt trong s đó chúng tôi đã gp ri.

Khi có mặt tại lễ trao giải MTV Awards, Chris Martin nói rằng anh chợt nhận ra là mình đã già hơn những gì anh cảm thấy: ‘Tôi thy mình vn còn phong độ nhưng thc tế thì tôi có th làm cha ca Justin Bieber ri cũng nên. Dĩ nhiên là ch là gi thuyết thôi, bi vì hi tôi bng cu ta bây gi thì chng có cô gái nào hng thú vi tôi hết, nhưng v mt sinh hc thì điu đó có th lm ch. Nhưng mt khác thi đó thì Queen vn còn đang chơi và tôi có th là con trai ca Brian May không chng.’

Thậm chí trước khi Coldplay ra EP đầu tiên năm 1998, họ đã nói về chuyện làm thế nào để duy trì một ban nhạc cùng nhau. ‘Chúng tôi đã đối mt vi nhng th không an toàn t khi còn rt sm’, Will Champion nói. ‘Vic ra quyết định và chuyn tin bc: tt c nhng th đó luôn có xu hướng kéo các thành viên trong band ri xa nhau nếu anh không biết cách làm cho đúng đắn. Nó là mt mi quan h 4 chiu gia nhng gã đàn ông và nó cn được duy trì mt cách n định nht có th.’ 

Chris thì chắc chắn sẽ cãi lại là đây là mối quan hệ 5 người chứ không phải 4. Vì đã từ lâu, cậu bạn học ngày xưa của Chris, Phil Harvey đã luôn được liệt kê là thành viên thứ 5 của ban nhạc ở trong tất cả các albums mà nhóm đã cho ra mắt, chỉ ngoại trừ ‘X&Y’ thôi. Và ở chính album đó, vì bị áp lực quá nặng nề sau những thành công (của ‘A Rush Of Blood To The Head’), Phil đã rút lui khỏi vai trò quản lý và biến mất khỏi hoạt động của nhóm một thời gian, rồi trở lại với vai trò là giám đốc sáng tạo không chính thức của Coldplay. ‘X&Y’ cũng là album mà Coldplay không hề yêu thích mấy, là album bị xem như là ‘nửa vời’ của nhóm, là sự nhắc nhở một lần nữa cho bài học mà Coldplay có được từ 2 tiền bối U2 và Radiohead.

Đó là 2 tượng đài mà bn cn nhìn lên để thy v trí mà hđược bây gi, và h vn duy trì 1 đội hình gn kết vi 5 cá nhân (Chris đã tính luôn qun lý ca U2 là Paul McGuiness). Tôi ngưỡng m điu đó cũng nhiu như ngưỡng m âm nhc ca h. Bn thân ban nhc đã là 1 điu k diu ri. Chng có ai trong s chúng tôi có đủ tài năng nếu so vi Michael Jackson hay Lady Gaga nhưng chúng tôi làm thành 1 nhóm và đó là cái cht độc nhất vô nhị.’ 

Brian Eno sẽ được xem như là yếu tố cuối cùng khiến cho cái ‘chất’ đó trở nên mạnh mẽ hơn, đa dạng hơn. Eno đã sản xuất nên một album thành công như ‘Viva La Vida Or Death And All His Friends’ nhưng đến thời điểm này vai trò của Brian còn nhiều hơn thế nữa, theo lời của Will: ‘chơi keyboard, to tiếng động, tiếng n nói chung, người động viên, người giữ cho chân của chúng tôi luôn chạm mặt đất’.

Nhưng sự nỗ lực vì tinh thần dân chủ của Coldplay cũng có những lúc khá là mệt mỏi. Những đề xuất luôn bị mổ xẻ và tranh luận kéo dài. ‘Đôi khi có những đề nghị sẽ khiến cả band chia rẽ và cuối cùng kết cục là bạn không thể nào làm điều đó được.’ Chris chia sẻ, ‘ví dụ như 1 nửa band thì rất muốn tham gia The X-Factor, nhưng nửa còn lại thì sẽ cho rằng đó là ý kiến tồi nhất.’

Q: Vậy thì anh ở nửa nào?

Chris: Tôi không thể nói cho bạn biết được. Nhưng rồi anh lại nói: ‘Tôi với Phil và Johnny (guitarist) có thể làm bất cứ điều gì đấy.’ (Vậy có thể suy ra nửa kia còn lại là Will và Guy).

Thậm chí trong việc sáng tác, quá trình dân chủ đó cũng được áp dụng. Đa phần những ca khúc mà Chris đem đến đều phải vượt qua một hành trình thử thách khá gian nan với rất nhiều ý kiến khác nhau từ: các thành viên trong band, nhà sản xuất, gia đình rồi bạn bè. Chẳng hạn như Will đã từng tẩy chay bài ‘Clocks’ khi lần đầu mới nghe nó.

Bono nói Chris Martin là một người soạn giai điệu giỏi ngang với Paul McCartney. ‘Đầu óc và trí nhớ tôi rất tệ ngoại trừ với âm nhạc.’ Chris nói, ‘Tôi đọc một cuốn sách mà nếu có những đoạn mình thích thì tôi sẽ viết chúng lại nhưng tôi sẽ chẳng nhớ chút nào những gì xảy ra trong đó đâu. Nó cũng tương tự với những thứ tôi học ở trường. Nhưng tôi lại có trí nhớ tuyệt vời với những giai điệu.’

Lời ca thì có thể khó khăn và vất vả (mà theo Chris, được hình thành nên từ dòng chảy của ý thức), nhưng giai điệu thì đến rất tự nhiên, thoải mái. Tất cả giai điệu của những bài hits như ‘The Scientist’ hay ‘Fix You’ hay ‘Viva La Vida’, đều nổi lên rõ mồn một và đầy đủ cho dù không phải lúc nào cũng được như vậy.

Một vài tuần trước, khi Chris chạy bộ ngang qua khu vực ‘Chiếm Lấy Wall Streets’ ở công viên Zuccoti, anh thấy 1 đoàn biểu tình đang diễu hành và anh có gia nhập vào khoảng 10 phút trước khi cảm thấy chẳng hề thoải mái chút nào. ‘Mọi người xung quanh sẽ nói, ủa, sao lại có 1 thằng cha ca sĩ giàu có xuất hiện ở đây vậy? Và thế là tôi bị đẩy ra thôi.’

Chris đã cố gắng viết những ca khúc về chính trị một cách công khai, trực diện nhưng chẳng bài nào trong số đó qua được vòng kiểm duyệt của Will, và anh ta cũng nghĩ tay trống của mình đúng.

Những kẻ hoài nghi phán xét rằng ca từ của Chris chỉ toàn những thứ mơ hồ và trấn an chung chung, được viết ra với mục đích để tiếp cận đến với càng nhiều người nghe càng tốt. Nhưng họ đã bỏ qua một sự thật rằng những ca khúc ấy đồng thời cũng chính là những thông điệp mà Chris tự nói với bản thân, mang ý nghĩa hệt như anh ấy nói với khán giả của Coldplay vậy.

Trước khi Chris phải đi, anh ta có để lại 1 câu hỏi khá hóc búa dành cho Q: ‘Khi nào thì cậu nghĩ chúng tôi nên dừng lại? Chúng tôi nên làm gì? Tôi thật lòng hoang mang đấy.’

Bị thỉnh ý về vận mệnh của một trong những ban nhạc Anh lớn mạnh nhất, Q lập cập nói rằng band nên dừng lại một khi họ không còn vui thích với những gì họ đang làm, nhưng câu trả lời đó chẳng hề thuyết phục được Chris.

‘Để cho ra được một đĩa nhạc, nó phải mang ý nghĩa là tất cả từ những gì chúng tôi có, vì vậy chúng tôi chỉ có thể làm được cái tiếp theo một khi nó mang ý nghĩa là tất cả mọi thứ một lần nữa.’

‘Với tất cả những gì bất an và hoang tưởng mà tôi gặp phải trong đời thường, thì khi lên sân khấu tôi yêu chúng chết cha. Tôi yêu ban nhạc của mình. Và tôi phải làm điều đó. Niềm vui ở đó, niềm hạnh phúc ở đó. Và trên sân khấu, tôi chẳng hề nghi ngờ đếch gì về việc ban nhạc nào là đỉnh nhất thế giới hiện nay, nhưng chỉ trong vòng 90 phút đó thôi.’

Và có lẽ đó chính là tất cả, cả cuộc đời của Chris Martin chỉ gói gọn trong 90 phút rực cháy ở trên sân khấu kia thôi.

Dịch từ: Q Music Magazine – Jan 2012

Bột và ‘Đường Về’

Bột và ‘Đường Về’

Đầu tiên

Tôi còn nhớ trong Rockshow ‘HoMeLessNess’ do RockFanClub tổ chức ngày 10 tháng 6 năm 2004 tại bar Lexus, Microwave sau 1 thời gian im ắng có buổi biểu diễn trở lại trước các Rockfans Sài Gòn. Thời điểm đó, mỗi khi lên sân khấu, Microwave luôn là band bị la ó nhiều nhất, vì Rockfans Sài Gòn lúc đó khá là bảo thủ, họ ghét cái thể loại Nu-Metal mà nhóm đang chơi, họ ghét những bài nhóm cover của Limp Bizkit hay Korn. Họ đá đểu và công kích nhóm bằng cách hô to: “Micro…soft”.

Nhưng trong đêm diễn ‘Homelessness’ 7 năm về trước kia, Bột (tên thật là Nguyễn Công Hải) đang là vocal của nhóm (Khanh khi đó chỉ mới tham gia hát rap ở 1 vài ca khúc thôi) đã đứng trên sân khấu rất hiên ngang, tuyên bố rằng “Sau buổi biểu diễn này ra ngoài thì muốn fuck lẫn nhau thế nào cũng được. Nhưng Microwave hôm nay sẽ chơi hết mình.”

Và đúng là hôm đó họ đã chơi hết mình, khiến nhiều người ngạc nhiên (và cảm động) với những sáng tác đầu tiên: “Ước Mơ”, “Trái Tim Dũng Cảm” và ca khúc sau này trở thành big hit của Rock Việt: “Tìm Lại”.

Nhiều Rockfans chắc vẫn còn nhớ hình ảnh Bột đã hát & nằm dài, khóc trên sân khấu. Một hình ảnh rất hiếm thấy sau này của ở những Rockshow.

Sau đêm diễn đó, Microwave đã định là tan rã. Và album “Lối Thoát” ra vào tháng 12, 2005 tưởng chừng như là đứa con tinh thần đầu tiên và cũng là cuối cùng của nhóm.

Nhưng không ngờ chính album đó đã mở ra ‘Lối Thoát’ thật sự cho Microwave, để sau này nhóm nổi tiếng và thành công thế nào thì ai cũng đều đã thấy.

Chỉ có điều, từ đó Bột đã ‘không còn đứng bên nhau nữa rồi’ với các thành viên còn lại trong band. Từ đó, Khanh chính thức thay thế Bột làm vocal của Microwave.

 Lần hai

Vẫn là RFC show, tháng ngày 01 tháng 12, 2005 tại Công viên Tao Đàn. Microwave có phần biểu diễn, chính thức trình làng những ca khúc trong album ‘Lối Thoát’ (chính thức phát hành ngày 25.12).

Microwave bắt đầu diễn được khoảng nửa list, thì đến bài ‘Ước Mơ’, Bột đột nhiên xuất hiện, leo lên sân khấu. Anh lao lên ôm lấy các anh em trong band, và xin hát chung bài này, mặc cho các thành viên hơi bất ngờ và ngơ ngác. Và chất giọng của Bột khi cất lên (tôi xin lỗi trước) khiến tôi thấy xúc động và có hồn hơn nhiều khi nghe Khanh hát. Bột hát như chưa bao giờ được hát vậy. Dưới sự cổ vũ, reo hò của các fans, sau ca khúc, anh buông mình nhảy xuống sân khấu một cách đầy mãn nguyện.

Đối với tôi, đó là show diễn hay nhất của Microwave, cũng một phần vì lúc đó tôi đang trải qua giai đoạn tan vỡ sau một mối tình, chẳng có gì bấu víu ngoài âm nhạc. Và ‘Tìm Lại” là tất cả những gì tôi cần lúc đó.

Rồi khi album “Lối Thoát” chính thức phát hành, nhiều người đã đọc thấy trên booklet những dòng cảm ơn mà Microwave dành cho Bột, vì những dấu ấn của anh, vì tình anh em. Dù Microwave sau này có đi đến tận đâu, thì hình ảnh của Bột (với riêng tôi), vẫn sẽ gắn liền với những ngày ‘mơ ngày mai ta là sao, bay trên cao ôi ta là sao…’

 Lần ba

Acoustic bar, một buổi tối cuối tuần đông đúc, như lệ thường. Tôi vẫn còn nhớ đó là dịp quốc khánh 2.9 năm 2008. Acoustic tổ chức event. Bắt đầu bằng việc chào cờ và hát quốc ca (chưa có quán bar nào làm điều tương tự trước đây).

Tối đó có Juram hát ‘Tình Thôi Xót Xa’ tiếng Việt với ‘I Don’t Want To Miss A Thing’…

Và có một lúc, khi khán giả đã hơi vãn vãn, Bột lên sân khấu, cầm đàn thùng, hát mấy bài của mình sáng tác. Lúc đó cảm giác như Bột hát chơi, kiểu giao lưu cây nhà lá vườn, chứ không có gì ghê gớm hay chuyên nghiệp. Nhưng cách Bột hát và ca từ thì thật gần gũi, giản dị như đang tự sự với bạn bè, người quen.

Sau đêm đó về, tôi có viết 1 entry trên Yahoo!360 cũ, với tựa đề là “Borderless” (dựa theo bộ phim documentary về Rock Việt của Thắng Vũ), và bài viết đó sau này được giải 3 cuộc thi viết về Acoustic bar. Chẳng có gì đáng khoe nhưng lúc đó tôi lại thấy rất vui, hãnh diện. Một lần nữa tôi lại nhắc đến Bột. Đến cảm xúc mà anh khiến cho tôi có được, chỉ bằng việc hát nghêu ngao những bài tự sáng tác.

Đến đây thì tôi phải nói rõ rằng, tôi chưa bao giờ quen Bột. Chưa bao giờ có mối liên hệ hay giao tiếp với anh ở bên ngoài. Nhưng trong suy nghĩ của tôi, Bột thật sự là một hình mẫu của Indie Artist Việt, cho dù anh chẳng bao giờ nhận mình là Indie. Và tôi tin rằng sẽ có ngày anh tự khẳng định được mình, với âm nhạc của riêng anh.

Và ngày đó đã đến, khi Quái Vật Tí Hon cho ra mắt album ‘Đường Về’.

Tôi biết đến Quái Vật Tí Hon & dự án “Đường Về” từ cách đây hơn nửa năm, khi nhóm bắt đầu chuẩn bị thu âm tại Malaysia. Trong suốt 2 tháng qua, Quái Vật Tí Hon là cái tên được nhắc đến nhiều nhất (tạm gọi là của Rock Việt) từ những báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ hay những chương trình lớn và chính thống như Bài Hát Việt đến nhạc hội Rock lớn nhất như Rockstorm.

Không cần phải giới thiệu lại về line-up của Quái Vật Tí Hon, với những tên tuổi nào của Rock Việt, tôi chỉ muốn nói về âm nhạc trong ‘Đường Về’.

Thẳng thắn mà nói thì chất liệu âm nhạc, phong cách âm nhạc trong album này không phải là cái gì đột phá, hay mới mẻ đối với Rock Việt. Cũng vẫn là guitar đánh kiểu ngũ cung, vẫn là Alternative sound mà các band Rock Việt hay chơi, vẫn là acoustic guitar mộc mạc, chủ đề cũng chỉ là cuộc sống, tình yêu mà thôi. Nhưng cái mà tôi (và chắc là cũng nhiều người khác) tâm đắc nhất ở album này chính là: cảm xúc.

Một cảm xúc rất trọn vẹn được dẫn dắt từ đầu đến cuối, xuyên suốt trong những ca từ, giai điệu mà Bột & những thành viên đã tạo nên.

Về âm nhạc, có cảm giác rằng Quái Vật Tí Hon kế thừa của Gạt Tàn Đầy, Rosewood, của phong cách Rock ‘miền Bắc’ đầy đặc trưng. Điển hình là những bài ‘Vì Đời’, ‘Ngày Hôm Qua’ hay ‘Qua Ô Cửa Thời Gian’.

Kiểu viết lời, chơi chữ đầy ý nhị, có lúc châm biếm, giễu nhại, chua chát. Nhưng tựu chung là nhiều chất thơ, nhiều hình tượng. Hoà quyện trong đó là giai điệu với những khoảng lặng, chút ambient, đầy cảm xúc. Đôi lúc ta còn thấy ẩn hiện chất dân gian Bắc Bộ trong cách hát hay hoà âm, như ở bài ‘Vợ Ơi Anh Đã Sai Rồi’ chẳng hạn.

Giống như nhạc sĩ Quốc Trung đã nhận xét: “Album như những câu chuyện được kể bằng âm nhạc – một cách giản dị với chất liệu âm nhạc chủ yếu sử dụng khéo léo ngũ cung Việt Nam. Đã lâu lắm rồi hay nói đúng hơn là làn đầu tiên có một band nhạc chơi toàn những sáng tác của mình với ngôn ngữ kể chuyện của riêng mình…”

“Đường Về” thật sự là một album rất đáng nghe và cảm nhận, cho thấy rằng Rock Việt chẳng cần phải là những gì ồn ào, ầm ỹ hay đao to búa lớn thì mới khẳng định được mình. Rock, là chính mình, là cuộc sống, là hơi thở từng ngày, là độc lập trong tư tưởng và con đường mình đi.

Quái Vật Tí Hon khiến tôi tìm lại những cảm xúc của ngày xưa, tưởng chừng như đã quên lãng khi nào, cho tôi muốn có được lại cảm xúc mãnh liệt, hết mình khi đứng trong lòng những Rockshows.

Và cám ơn Bột, vì sau 7 năm ấy, tôi đã thấy cậu tìm được ‘đường về’, với những gì cậu tâm huyết, đam mê, với những gì thật sự là chính mình.

Ryan Gosling – Đã đến lúc toả sáng.

Ryan Gosling -Đã đến lúc toả sáng 

Trong những năm gần đây điện ảnh thế giới dường như có một sự thay đổi lặng thầm. Có vẻ như cái thời của những “ngôi sao màn bạc” mà mỗi bộ phim ra mắt đều khiến cả triệu trái tim thổn thức còn doanh thu thì chảy ầm ầm đã phần nào qua đi, nhường chỗ cho những diễn viên không phải là ngôi sao đình đám nhưng diễn xuất thì quên sầu.

Điển hình trong năm qua, những cái tên được xướng lên hầu hết không phải minh tinh màn bạc mà chỉ là những diễn viên thực thụ như Christian Bale (The Dark Knight, The Fighter), Jesse Eisenberg (The Social Network) hay Colin Firth (The King’s Speech). Còn những ngôi sao ăn khách như Johnny Deep (Pirates of Caribbean 4) hay Ryan Reynolds (The Green Lantern) thì phim chỉ ở mức làng nhàng.

Trong số những diễn viên thực thụ mà tài năng đang bắt đầu thu hút giới truyền thông, có một cái tên mà Hollywood tưởng như không mấy để ý đến trong cả một khoảng thời gian khá dài: Ryan Gosling.

Lần giở lại tiểu sử của anh chàng 31 tuổi này thì nhiều người sẽ hơi ngạc nhiên khi biết rằng anh đã có một khởi đầu đầy thuận lợi khi ở tuổi 12 đã tham gia diễn xuất trong show truyền hình nổi tiếng The Mickey Mouse Club của Disney. Ở đó, cùng lứa với anh là những thần tượng đình đám của tuổi teen sau này: Britney Spears, Justin Timberlake, Christina Aguilera.

Bởi những tưởng có khởi đầu như vậy thì Ryan Gosling sẽ đi theo hướng của các bạn đồng trang lứa, nhưng thật bất ngờ ở năm 21 tuổi, anh đã nhận một vai diễn chính nghiêm túc đầu đời của mình trong một bộ phim đầy gai góc và gây tranh cãi: The Believer. Ryan đã vào vai một cậu thiếu niên sùng bái chủ nghĩa phát xít đầu trọc và bộ phim này đã nhận được rất nhiều ấn tượng từ giới phê bình lẫn giải thưởng của Hội đồng giám khảo liên hoan phim Sundance năm đó.

Từ bước đầu đó Ryan Gosling đã chọn cho mình một con đường điện ảnh không hề dễ dãi, bằng phẳng chút nào. Số lượng các tác phẩm điện ảnh mà anh đã tham gia cho đến thời điểm này chưa vượt quá 20, một con số đầy khiêm tốn nếu so với những diễn viên Hollywood khác cùng thời. Tuy nhiên, những tác phẩm mà Ryan đã tham gia đều để lại những ấn tượng và dấu ấn rất riêng.  Có thể liệt kê ra đó là hình ảnh chàng trai hiền lành bị ảo tưởng khi yêu một hình nộm búp bê trong “Lars and The Real Girl”, hay một gã thầy giáo trẻ nghiện ngập với “Half Nelson” (Ryan được đề cử Oscars Diễn viên chính xuất sắc nhất năm 2007 cho vai này). Nhưng ở Việt Nam, Ryan gần như chỉ được biết đến nhiều nhất với vai chàng trai Noah trong tác phẩm diễm tình được nhận định là hay nhất thập kỷ chỉ sau “Titanic”: “The Notebook”.

Năm 2010 vừa qua, trong hạng mục đề cử Oscars lần thứ 83rd, bộ phim tâm lý kinh phí thấp “Blue Valentine” mà Ryan đóng vai nam chính cũng nhận được đề cử cho hạng mục phim xuất sắc nhất. Để chuẩn bị cho vai diễn này, Ryan và nữ diễn viên Michelle Williams đã phải thuê một căn hộ thật sự và dọn về sống cùng với nhau bằng chính số tiền tương đương với thu nhập hàng tháng của 2 nhân vật trong phim trong 1 khoảng thời gian. Từ đó những mâu thuẫn, tâm lý, diễn biến của cặp đôi này đã hình thành làm chất liệu cho vai diễn và cả bộ phim.

Trong cuộc sống cá nhân, dù rằng Ryan có mối quan hệ với những ngôi sao nổi tiếng nhất nhì Hollywood như Sandra Bullock hay Rachel McAdams nhưng có vẻ như anh rất muốn tránh càng xa càng tốt khỏi những ảnh hưởng bởi danh tiếng và hào hoa phù phiếm của giới này. Bằng chứng là Ryan hầu như rất ít khi phát biểu về bản thân mình, không tham gia đóng quảng cáo hay những sự kiện đình đám để đánh bóng tên tuổi.

Nhưng dù có muốn trốn tránh thế nào đi chăng nữa, thì từ cuối năm nay cho đến đầu năm sau, Ryan Gosling chắc chắn sẽ trở thành một trong những tâm điểm của điện ảnh 2012, khi có đến một lúc 3 phim đã và đang chờ ra mắt: “Drive” là tâm điểm đầu tiên khi chiếu ra mắt tại liên hoan Cannes năm nay, và đã chính thức khởi chiếu tại Bắc Mỹ từ ngày 16.09. “Drive” hiện đang nhận được rất nhiều đánh giá ấn tượng từ giới phê bình cũng như doanh thu phòng vé đến thời điểm hiện tại là khá khả quan.

Sau “Drive” sẽ là “The Ides of March” hợp tác với George Clooney (đạo diễn kiêm diễn viên), bộ phim tâm lý chính trị sẽ ra mắt toàn cầu từ tháng 10 này được đánh giá là ứng viên của Oscars năm tới.

Ngoài ra thì những dự án như “The Place Beyond The Pipes” (2013) hay “Logan’s Run” (làm lại từ phim gốc năm 1971), sẽ khiến cái tên Ryan Gosling không thể nào lặn đi đâu được ít nhất là trong 2 năm sắp tới, dù cho anh đã phát biểu với giới truyền thông rằng: “Tôi cảm thấy phát bệnh với việc nhìn thấy mình xuất hiện liên tục trên màn ảnh”.

Sau đây là trích đoạn 1 phần trong bài phỏng vấn mới nhất của Ryan Gosling với tại chí Total Film số tháng 10, 2011:

“Một vài năm sau “The Believer”, anh nhận được đề cử Oscars đầu tiên cho vai diễn trong “Half Nelson”. Khi đó anh đã đón nhận thông tin đó thế nào?”

–       Khi tin đó đến, tôi cảm thấy như là không hề thật tí nào. Còn buổi lễ trao giải thì thật là…kỳ quái. Tôi đã đến đó với mẹ và chị mình và trong khi họ vô cùng háo hức vui vẻ trên thảm đỏ thì tôi lại chẳng thấy gì hết. Tôi cảm thấy mọi thứ rất hài. 

“Anh có thất vọng không khi chẳng nhận được đề cử nào cho ‘Blue Valentine’?”

–       Không. Tôi thấy nhẹ nhõm là đằng khác. Nó rất đúng với tôi vì Michelle đã được đề cử và tôi thì thoát nên tôi chẳng phải làm gì cả. Cô ấy thì phải làm tất cả! Với ‘Half Nelson’ thì không có chiến dịch vận động nào, tôi chỉ đột ngột được đề cử thôi. Nhưng với ‘Blue Valentine’ thì chúng tôi đã cùng với Harvey Weinstein tiến hành cả một chiến dịch. Bạn phải thật sự chứng kiến bao nhiêu thứ việc mình phải làm thì mới thấy được. Nào là ăn trưa, bắt tay hết người này người kia rồi viết lời ghi chú cho tất cả mọi người. Bạn tự thuyết phục chính mình rằng đó là những gì tốt nhất cho bộ phim – có nghĩa là khi phim được đề cử thì nhiều người sẽ có cơ hội được xem nó hơn, và nếu bạn không tham gia vận động thì có nghĩa là bạn không quan tâm gì đến bộ phim cả. Nó vô cùng áp lực, và bạn cũng chẳng hiểu tại sao mình lại phải chịu áp lực đến thế nữa.

“Thế còn quá trình làm ‘Drive’ thì sao?”

–       Tối đầu tiên mà tôi và Nicolas (đạo diễn Nicolas Winding Refn) gặp nhau đã vô cùng tồi tệ. Nhưng rồi khi tôi lái xe chở anh ấy về thì trên đài đang phát bản “I Can’t Fight This Feeling Anymore” của REO Speedwagon và tôi mở to nó lên để nghe bởi vì nếu không thì chúng tôi cũng có nói chuyện gì với nhau đâu. Thế là Nicolas bắt đầu hát theo và rồi hát to hết cỡ. Và ngay sau đó anh ấy nói rằng bài hát đó đã cho anh ta biết bộ phim có thể diễn ra thế nào. Nó là về một người đàn ông lái xe và nghe những bản nhạc Pop vào ban đêm. Vậy là nhạc Pop như vô tình đã cứu chúng tôi vậy. Tôi thật sự không nghĩ chúng tôi có thể làm được ‘Drive’ nếu không nhờ bài  hát tối hôm đó.

Trở về tuổi thơ một chút, từ khi nào anh bắt đầu có hứng thú với phim ảnh? Anh có phải là fan từ lúc bé xiu không?”

–       Vấn đề cơ bản ở đây là tôi không hề xem đó chỉ là phim ảnh đơn thuần khi còn bé. Bằng cách nào đó tôi bị những bộ phim “đầu độc” là mình cũng là một nhân vật trong đó. Tôi còn nhớ đã được xem “First Blood” năm mới lớp một và ngày hôm sau tôi đến trường với một con dao cắt beefsteak giấu trong bộ đồ ăn của mình. Rồi tôi còn ném nó về phía những đứa nhóc khác nữa chứ. Tôi cứ tưởng mình là Rambo. Sau đó thì mẹ tôi không để tôi xem những phim dán nhãn R nữa. Chỉ xem phim của National Geographic và phim về Thánh Kinh thôi. Nhưng mà nói thật là mấy phim đó còn bạo lực hơn.

“Vậy là giờ đây danh vọng đã bắt đầu chạm đến anh…”

–       Bạn biết khi bạn mơ, và mọi người biết rằng bạn đang mơ đó. Và lúc nào bạn cũng có cảm giác người ta đang nhìn vào mình. Rồi cảm thấy bạn vẫn là mình nhưng thật sự lại không phải thế? Nó cứ là cảm giác đó suốt thôi.

“Cuối cùng nhé, sau hơn một thập kỷ gắn bó với phim ảnh, và những vai diễn của anh đều đáng nhớ. Nhưng cá nhân anh thì thích vai nào nhất?”

–       Àh, xem nào… Tôi thích vai Lars (trong ‘Lars and The Real Girl’). Đó là vai tôi thích nhất cho tới giờ. Tôi đã thật sự trải qua khoảng thời gian rất đẹp khi đóng phim đó.

“Đó là vai mà anh diễn một nhân vật có mối quan hệ lãng mạn với một con búp bên tên là Bianca… Anh đã chuẩn bị để nhập vai thế nào?”

–       Tôi chỉ đơn giản là dẫn Bianca đi chơi thật nhiều và chuyện trò với cô ấy. Bây giờ cô ta còn đang ở nhà tôi kìa.

“Thật à?”

–       Thật. Nhưng giờ thì tôi chẳng biết làm gì với cô ta nữa. Tôi không thể để cô ấy chất bụi trong garage nên đang để cô ấy ở trong phòng khách.

“Anh vẫn còn nói chuyện với cô ấy chứ? Nếu có thì anh nói về những chuyện gì?”

–       Eh, tôi không thể nào nói cho anh nghe về những mối quan hệ  lãng mạn riêng tư được…

***

5 Phim Không Nên Bỏ Qua của Ryan Gosling

The Believer (2001)

Ryan Gosling đã có vai diễn điện ảnh đầu đời không thể nào gai góc hơn khi hoá thân vào hình ảnh một cậu trai gốc Do Thái nhưng tự biến mình thành một tên đầu trọc cuồng tín theo chủ nghĩa Tân Phát xít. Bộ phim gây tranh cãi này dựa trên một câu chuyện có thật từ những năm 1960 của 1 thành viên băng đảng KKK bị khám phá ra là người gốc Do Thái bởi 1 nhà báo của tờ  New York Times.

Half Nelson (2006)

Dan Dunne là một thầy giáo trẻ dạy môn lịch sử kiêm huấn luyện viên của đội bóng rổ nữ trường trung học Brooklyn. Trái ngược với phong cách năng động, trí tuệ sáng suốt và khả năng kiểm soát mà thầy giáo trẻ này thể hiện ra, bên ngoài lớp học, cuộc sống của Dan như ở bên kìa bờ vực với ma tuý. Một ngày kia, Drey, một thành viên nữ của đội bóng rổ mà Dan huấn luyện phát hiện ra ông thầy mình đang phê. Và thế là mọi sự bắt đầu thay đổi… Vai diễn này đã khiến Ryan Gosling bất ngờ được đề cử “Nam diễn viên xuất sắc nhất” cho Oscars lần thứ 79th.

Lars and The Real Girl (2007)

“Khi tôi đọc kịch bản, tôi đã khóc ở đoạn cuối cùng… Tôi nghĩ rằng đây là một câu chuyện vô cùng lãng mạn về kiểu như là để học cách yêu một thứ gì đó, bạn không nhất thiết cần phải được yêu ngược lại. ” Ryan đã nói về câu chuyện tình khác thường giữa một anh chàng cô độc và cô búp bê mà anh ta đặt hàng trên mạng như thế đó. Đây cũng là vai diễn mà Ryan thích nhất cho đến thời điểm này.

Blue Valentine (2010)

Ai đó đã từng nói “Bạn sẽ luôn làm tổn thương người bạn yêu”. Điều đó đã được khắc hoạ một cách rõ nét trong bộ phim này, qua chân dung của cặp vợ chồng Dean và Cindy, hình mẫu của hôn nhân đương đại. Đôi khi chỉ yêu thương thôi thì vẫn là chưa đủ. Một vai diễn mà đã khiến cả Ryan lẫn Michelle Williams phải nỗ lực hết mình để lột tả, thậm chí họ còn dọn về sống cùng nhau trong một căn hộ đi thuê, và tiêu xài đúng bằng khoản thu nhập mà 2 nhân vật trong phim kiếm được hàng tháng.

Crazy, Stupid, Love (2011)

Tạm bỏ lại những vai diễn tâm lý nặng nề, buồn bã, bộ phim hài hước này là một bước chuyển mình của Ryan. Anh hoá thân vào vai một tay sát gái tên Jacob. Steve Carrel đóng vai chính Cal Weaver, một gã đàn ông thất bại trong hôn nhân, bị vợ cắm sừng và tối tối đến quán bar để giải sầu. Trong một lần vô tình gặp ở quầy bar, Jacob cảm thấy thương hại cho Cal và quyết định sẽ giúp Cal học cách quyến rũ phụ nữ. Jacob dẫn Cal đi mua sắm, chỉ cho Cal cách ăn mặc và nghệ thuật của sự quyến rũ. Tình bạn bắt đầu nảy nở từ đó… “Crazy, Stupid, Love” là một phim hài, lãng mạn khá thành công từ mùa hè qua, rất thích hợp cho cánh đàn ông giải trí vào cuối tuần.

* Tựa đề do anh Lê Hồng Lâm đặt 

* Bài đăng trên tạp chí Thể Thao, Văn Hoá & Đàn Ông – số tháng 10, 2011