Về ‘Gone Girl ‘ và Bạch Dạ Hành.

Bài viết có tiết lộ nội dung phim & truyên. Vui lòng cân nhắc khi xem.

—–

Tôi xem ‘Gone Girl’ ngày hôm qua. Và cả ngày hôm nay tôi vẫn còn phấn khích bởi bộ phim. Phải rồi, đó là 1 tác phẩm của David Fincher cơ mà. Nhưng lý do sâu xa hơn mà bộ phim khiến tôi bị rung động, không đơn thuần là bởi nó hay, mà vì nó còn có 1 sự liên tưởng đặc biệt đến 1 cuốn tiểu thuyết mà tôi bị ‘ám ảnh’ gần đây: Bạch Dạ Hành của Higashino Keigo.

Gone Girl poster

Nghe như không liên quan lắm, nhỉ? Dĩ nhiên rồi, Gone Girl được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Gillian Flynn thì liên quan gì đến cuốn tiểu thuyết kia chứ? Vâng, 2 cuốn tiểu thuyết tách biệt, nội dung cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng có 1 mối liên hệ duy nhất: đề tài về tội ác và sự ma quỷ của 1 người phụ nữ.

Ở Gone Girl thì đó là Amy Dunne – Amy Kỳ Diệu, còn ở Bạch Dạ Hành thì là Karasawa Yukiho.

Hình ảnh phim Bạch Dạ Hành với 2 nhân vật chính Yukiho & Ryo

Cả 2 cô gái đều xinh đẹp, và lớn lên trong những hoàn cảnh đặc biệt khác người.

Amy thì được mệnh danh là Amy Kỳ Diệu – Amazing Amy từ khi còn rất nhỏ, dựa trên hình ảnh do cha mẹ cô xây dựng nên trong loạt sách cùng tên. Một kiểu thiên tài và anh hùng trẻ con, quý tộc, cao sang từ khi còn bé tí.

Tạo hình của Amy Dunne qua vai diễn của Rosamund Pike

Karasawa Yukiho thì hoàn toàn ngược lại. Xuất thân nghèo đói. Mẹ thì nát rượu, không kiếm ra tiền. Và bà ta nhẫn tâm ‘bán’ con gái mình cho 1 gã chủ tiệm cầm đồ. Yukiho bị lạm dụng từ khi học lớp 5.

Nền tảng gia đình là yếu tố rất quan trọng tác động đến sự hình thành nhân cách cho đứa trẻ. Và với những đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biết thế kia, thì ta có thể hình dung ra nó sẽ có tính cách đặc biệt thế nào, một khi lớn lên.

Điểm giống nhau thứ 2 ở cả 2 nhân vật này khi họ bắt đầu trưởng thành cho đến lớn: cùng tạo ra 1 vỏ bọc hoàn hảo cho thân phận, hình ảnh của mình.

Và mọi chuyện bắt đầu từ đó.

Nhưng dĩ nhiên, người phụ nữ sẽ khó mà hành động nếu chỉ có một mình. Họ cần một người ‘đồng hành’, và chắc chắn đó phải là 1 người đàn ông.

Trong Bạch Dạ Hành thì đó là Ryo. Còn Gone Girl thì đó là Nick Dunne.

Nick Dunne qua hoá thân của Ben Affleck.

Tuy nhiên vai trò của 2 nhân vật này vừa giống lại vừa khác nhau. Ryo thì suốt đời 1 mực yêu thương che chở cho Yukiho, sẵn sàng vì cô ta mà sống trong bóng tối, làm tất cả mọi tội ác 1 cách mù quáng. Còn Nick Dunne thì là 1 anh bạn trai rồi thành chồng, đẹp mã, có tài, nhưng hơi ‘ngây ngô’, vô tâm và có những bí mật riêng tư, trong mối quan hệ với Amy thì vừa tìm cách đối chọi lại với cô vợ của mình, vừa tìm cách ‘hoà thuận’ để duy trì cuộc sống hôn nhân.

Quay trở lại với 2 nhân vật chính, để có thể duy trì được vỏ bọc và từng bước thực hiện mục tiêu của mình. Họ phải lên những kế hoạch thật hoàn hảo, giải quyết những vật cản đường (là những người vô tình hay bất ngờ khám phá ra một sự thật nào đó có hại cho họ) và rất thông minh, có tài xoay sở để giải quyết những tình huống phát sinh sao cho có lợi nhất về phía mình, không chỉ ở hiện tại mà cho cả tương lai lâu dài sau đó.

Ở cả 2 câu chuyện thì đều có mấu chốt của 1 vấn đề. Bạch Dạ Hành & Yukiho thì là cái quá khứ ghê gớm (cố sát mẹ ruột và tiếp tay cho Ryo giết cha cậu ta) cần phải che dấu suốt đời. Còn Amy thì là mối hôn nhân ngày càng rệu rã với anh chồng ngoại tình và chỉ biết tiêu xài tiền của vợ.

Nếu Yukiho là chủ mưu gây ra hết tội ác này đến tội ác kia, dối trá, lừa lọc, giăng bẫy, hãm hại vì mục đích che dấu quá khứ và tìm mọi cách bước lên đỉnh của vinh quang, tiền tài. Thì Amy lại chủ động lập kế hoạch, đưa ông chồng chán chường của mình vào bẫy, muốn người chồng phải nếm trải cảm giác bị cả nước Mỹ ghét bỏ, và hơn thế, là nguy cơ nhận lãnh 1 kết cục bi thảm nhất: án tử hình vì tội giết vợ.

Yukiho đi từ thấp lên đến cao: con nhà nghèo, bị khinh ghét trở thành người phụ nữ đầy tiền tài, nhan sắc, danh tiếng. Amy đi từ cao đến tận đáy: dân Ivy League, con nhà quyền quý cao sang, phải từ bỏ New York về vùng nông thôn sống ru rú buồn tẻ.

Nhưng đâu là động lực sâu sa nhất, đẩy cả 2 con người này đến những hành động tận cùng như vậy? Câu trả lời chỉ có là: họ không có tình yêu thương. Với bất kỳ ai. Sự căm ghét và bất mãn qua năm tháng được chôn vùi, nung đỏ như sắt thép và đến lúc cần ra tay thì cực điểm của lạnh lùng.

Họ đều có trí óc, duyên dáng và đài các bên ngoài, nhưng bên trong thì sẵn sàng làm mọi thứ để nổi loạn và thâu tóm tất cả.

Họ bị ám ảnh, bởi sự ghen tuông, hận thù, tình yêu, quyền lực, ham muốn, danh vọng đến mức điên loạn.

Và kết cục của cả 2 nhân vật? Rất tiếc là không có cái ‘ác giả ác báo’ công bằng như những truyện Việt Nam. Cả 2 đều thoát thân ở đoạn cuối cùng. Nhờ vào đâu?

Yukiho thì đó là nhớ Ryo, người sẵn sàng lấy cái chết của chính mình để bảo vệ cho nàng. Còn Amy thì dùng hình nhân thế mạng là gã bồ cũ từng mê muội bám theo mình. Vâng, vẫn là những người đàn ông. Bởi thế mới nói, phụ nữ dù là thời nào, nếu biết dùng cả nhan sắc lẫn đầu óc kèm theo 1 trái tim lạnh lẽo nữa thì đàn ông chắc chắn chỉ có chết vì ả mà thôi.

Tạm chia tay 2 nhân vật chính, ta sẽ nói đến điểm giống nhau quan trọng tiếp theo của 2 tác phẩm này.

Đó là đạo diễn David Fincher & tác giả Higashino Keigo.

Đạo diễn David Fincher

David Fincher là 1 đạo diễn nối tiếng với những tác phẩm … chuyển thể từ tiểu thuyết hay sách. Điển hình là Se7ven, Fight Club, The Social Network hay The Curios Case of Benjamin Button đều là chuyển thể hết.

Higashino Keigo thì lại là 1 tác gia chuyên về trinh thám và rất nhiều các tác phẩm của ông được chuyển thể thành phim truyện, phim truyền hình. Thậm chí ông còn viết kịch bản phim luôn.

Cả David Fincher và Higashino Keigo đều là người rất chú ý đến những chi tiết nhỏ. Chi tiết nhỏ làm nên câu chuyện lớn. Xem Gone Girl sẽ thấy cách David Fincher xử lý từng chi tiết nhỏ nhặt kỹ càng đến mức nào. Cách tạo hình nhân vật chính, phụ, các câu chuyện lồng ghép vào, những lời thoại đầy tính châm biếm và motip hài hước chua cay. Và nhất là cách ông chỉ đạo diễn xuất lẫn cú máy để chuyển trạng thái và nhịp phim rất nhanh. Từ 1 cảnh ban đầu thấy rất bình thường nhưng quay qua 1 chút là thấy có không khí căng thẳng và rùng rợn.

Higashino Keigo thì với Bạch Dạ Hành, ông xây dựng 1 đường dây các nhân vật phụ rất nhiều, nhưng tất cả đều nối kết với nhau như 1 cái sơ đồ xoay quanh 2 nhân vật chính. Và cũng chính nhờ những nhân vật phụ, và rất nhiều các chi tiết nhỏ xây dựng 1 cách logic liên kết nhau, mà khiến người đọc hình thành nên rất nhiều những liên tưởng nằm bên ngoài cuốn sách, không phải do tác giả tự ý nêu ra.

Nhưng có 1 điểm mà David Fincher làm được ở Gone Girl mà tôi đánh giá cao hơn những tác phẩm khác của ông. Đó là việc ông tạo ra một mạch phim và biên kịch đưa vào rất nhiều yếu tố hài hước châm biếm. Rõ ràng là mình đang xem một phim thể loại tâm lý, hình sự, nhưng mà khán giả phải liên tục bật cười vì những lời thoại và cách tình huống lồng ghép vào.

Ở phim này, nếu có 1 điểm chưa hoàn hảo, thì đó là cách xây dựng nhân vật người chồng của Amy. Rõ ràng từ đầu cho thấy anh chồng là 1 kẻ hết thời, khá bê tha, lại ngoại tình với 1 em ngực to não phẳng, rồi chẳng lo làm ăn, chẳng hiểu biết gì đến tâm lý vợ mình. Và anh ta bị cuốn vào cái bẫy mà cô ả đã chuẩn bị sẵn chu đáo. Nhưng đến nửa cuối phim thì anh chồng tự nhiên ‘thông minh’ đột xuất, tự mình tìm ra lời giải cho những vấn đề.

Thật ra tôi nghĩ chính David Fincher cũng nhận thấy điểm này ở bộ phim nên phải có 2 nhân vật phụ là tay luật sư và cô em gái, là 2 người đồng hành cùng anh chồng trong việc tìm ra Amy, lật tẩy mọi quân bài và âm mưu của cô ả. Nhưng có vẻ như 2 nhân vật phụ này chưa được thành công cho lắm với vai trò trợ giúp.

Ngoài điểm đó ra thì Gone Girl xứng đáng là một trong những phim hay nhất năm nay, và David Fincher cùng biên kịch cho phim này xứng đáng 1 đề cử Oscars xuất sắc nhất. À quên, giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho Rosamund Pike cũng hợp lý nhưng e là còn quá sớm để cô nàng được nhận :).

Advertisements

Sự lãng mạn của thất bại.

Tôi luôn thích những bộ phim tập trung vào một chủ đề nhất định, khai thác mọi khía cạnh xoay quanh chủ đề đó và giải quyết triệt để vấn đề mà nhà làm phim đã đặt ra.

Năm 2010 tôi thích ‘Up In The Air’.

2011 thì ‘The Social Network

và 2012 là ‘Moneyball‘.

(Bài viết tiết lộ 100% nội dung film. Vui lòng cân nhắc khi đọc tiếp). 

Cả 3 bộ phim, đều là về những đề tài khá khô khan, tưởng chừng như là tẻ nhạt, nhưng khi đi sâu khám phá, và dưới bàn tay của những người đạo diễn, biên kịch tài ba, thì đều trở thành những đề tài thật sự có chiều sâu, thu hút và nhất là để lại cho tôi những dư vị cảm xúc khá dài lâu.

Cả 3 bộ phim đó tôi đã xem ít nhất 3 lần mỗi phim, mà vẫn thấy có cái thú vị không lặp lại.

‘Up In The Air’ & ‘The Social Network’ thì tôi không muốn bàn nữa vì cũng đã lâu rồi, entry này, để theo kịp tính thời sự nóng hổi tôi sẽ nói về ‘Moneyball’.

Trước hết, xin được nói một thông tin gần đây nhất là lễ trao giải Oscar 2012 vừa mới diễn ra, ‘Moneyball’ có mặt trong 6 đề cử: Phim Xuất Sắc Nhất & Nam Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất (cho Brad Pitt), Nam Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất (cho Jonah Hill), Kịch Bản Chuyển Thể Hay Nhất, Dựng Phim & Hoà Âm Xuất Sắc Nhất.

Kết quả: không được giải nào :).

Hệt như ‘Up In The Air’ năm 2010.

Cả 2 phim đều là những phim ‘thua cuộc’. Và theo thông lệ thì, ‘the winners take it all’, báo chí truyền thông lại có dịp ca tụng những người chiến thắng, còn những kẻ thua thì … ai mà quan tâm cơ chứ?

Ngoài sự giống nhau ở vấn đề thua cuộc trong việc tranh giải Oscar năm nay, thì ‘Moneyball‘ & ‘Up In The Air‘ còn giống nhau ở 2 điểm khác nữa:

Một, là phim về cuộc đời của 2 con người … thua cuộc. Vâng, Billy Beane (nhân vật chính của Moneyball – Brad Pitt đóng) & Ryan Bingham (nhân vật chính của ‘Up In The Air’ – Geogre Clooney thủ vai) là 2 kẻ thua cuộc, xét trên một khía cạnh nào đó.

Ryan Bingham thua cuộc trong việc xây dựng một mối quan hệ tình cảm thật sự, nghiêm túc, thua cuộc trong việc muốn ‘đứng vững trên mặt đất’ chứ không phải ‘lửng lơ đâu đó trên bầu trời’.

Còn Billy Beane thì từng thua cuộc với vai trò là 1 cầu thủ bóng chày được đánh giá là thần đồng, là vô cùng tiềm năng, và thua cuộc trong việc đưa đội bóng chày Athletics Oakland chiến thắng ở trận bán kết giải nhà nghề Mỹ năm 2001.

Hai là, cả 2 phim đều dựa trên 2 cuốn sách với cùng tựa đề, chỉ hơi khác nhau ở chỗ, một cuốn là chuyện có thật (‘Moneyball’) còn cuốn kia là tiểu thuyết hư cấu (‘Up In The Air’).

‘Moneyball‘ dựa trên cuốn sách cùng tên, đạo diễn bời Benneth Miller (từng đạo diễn phim ‘Capote‘), với nam diễn viên chính là Brad Pitt (đồng thời là 1 trong những nhà sản xuất của phim), Jonah Hill & Phillip Seymour Hoffman.

Bộ phim bắt đầu với cảnh Billy Beane ngồi một mình trên hàng ghế sân vận động Coliseum, sân nhà của đội bóng chày Athletics Oakland, CLB mà anh làm giám đốc điều hành. Billy Beane ngồi đó một mình giữa buổi tối, cứ bật rồi lại tắt rồi lại bật chiếc radio cầm tay, để nghe tường thuật trực tiếp trận đấu giữa Athletics Oakland và đội New York Yankees, trận thứ 3 trong loạt 3 trận để giành quyền vào chơi trận chung kết giải bóng chày nhà nghề Mỹ năm 2001. Kết quả, New York Yankees thắng với tỷ số 3 – 2, giành quyền vào chơi trận chung kết.

Billy Beane ko bao giờ xem đội mình thi đấu trực tiếp mà chỉ nghe thông tin tường thuật qua radio hay TV một mình

Đó là cuộc đối đầu giữa một người khổng lồ, với một gã tí hon, ít ra là xét trên phương diện tài chính. Đội Yankees có tổng kinh phí hoạt động hàng năm khoảng 120tr USD trong khi The A’s (Athletics Oakland) chỉ chưa đến 40tr USD.

The A’s thua. Đó là điều chẳng ai bất ngờ. Nhưng đau đớn hơn là sau trận thua đó, 3 cầu thủ chủ lực của The A’s là Johnny Damon, Jason Giambi & Jason Isringhausen đã bị 2 ông lớn của làng bóng chày Mỹ mua ngay lập tức. Thất vọng bởi vì thua trận một phần, chán nản hơn khi phải chứng kiến ‘The Yankees lấy mất quả tim và The Red Sox (đội Boston Red Sox) lấy mất quả thận)’ và The A’s chẳng khác nào lò luyện gà cho những đội bóng lớn‘. Nhưng cái khó khăn nhất là, để bắt đầu một mùa bóng mới, Billy phải đối mặt với việc xây dựng lại lực lượng chủ chốt với một nguồn kinh phí vô cùng eo hẹp. Mặc cho khát khao và năng lực của Billy là đưa The A’s đến với trận chung kết, và giành chiến thắng, nhưng ông chủ của đội đã nói thẳng với Billy rằng ‘đây chỉ là một đội bóng với kinh phí nhỏ và anh cũng chỉ là một giám đốc điều hành hạng trung mà thôi‘. Thực tế thì luôn phũ phàng như vậy.

Sau đó, ban tuyển trạch của The A’s, bao gồm những ông già trên 50 tuổi, nhóm họp lại để tìm kiếm, tuyển lựa những cầu thủ mà theo họ, là tầm tầm có tiềm năng thay thế cho 3 cầu thủ trụ cột đã ra đi. Và cách đánh giá cầu thủ của họ chỉ đơn thuần dựa trên kinh nghiệm & thước đo là cảm tính. Nào là cầu thủ A có cơ hàm tốt, cầu thủ B có thể đánh bóng đi theo đường cong, cầu thủ C thì là một vận động viên giỏi, hay thậm chí là anh B khá về năng lực nhưng bạn gái anh ta thì … xấu, và bạn gái xấu đồng nghĩa với việc … thiếu tự tin. Billy ngồi trong buổi họp đó, lắng nghe những cuộc bàn luận đó, trong một tâm trạng vô cùng chán nản và … bất lực. Bởi lẽ vấn đề thực tế là, nếu có thể mua một cầu thủ có tiềm năng để thay thể cho 1 trong 3 trụ cột trên, thì vào đến trận chung kết, chắc chắn vẫn thua những đội bóng lớn. Vì những đội lớn, họ đủ giàu để mua tất cả những cầu thủ giỏi nhất. Còn nếu có cầu thủ giỏi hơn 3 cầu thủ kia, thì chắc chắn A’s ko đủ tiền để mua được. Và như thế Billy đã thốt lên, ‘thế thì các anh còn bàn làm cái quái gì nữa vậy?

Billy Beane họp cùng ban tuyển trạch của The A’s

Billy nhận ra rằng, cứ tiếp tục theo cách làm bấy lâu nay, The A’s vẫn sẽ chỉ là lò luyện gà cho những đội bóng lớn. The A’s sẽ chẳng bao giờ có thể trở thành một đội bóng lớn thật sự. Và Billy, nhiệm vụ của anh là phải tìm một cách nào đó khác đi.

Trong một lần đến thăm đội Cleveland Indians để đàm phán mua cầu thủ thế chỗ cho Johnny Damon, Billy đã gặp Pete Brand. Pete là một sinh viên mới tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế từ trường Yale, là trợ lý cho giám đốc điều hành của đội Indians và là một chuyên viên phân tích cầu thủ. Trong suốt buổi họp, Pete đã ít nhất 2 lần nói nhỏ để giám đốc điều hành của Indians không bán cho Billy cầu thủ mà Billy muốn. Billy vừa tức tối, nhưng lại cảm thấy anh chàng Pete này có gì đó rất thú vị. Một buổi tối sau cuộc chạm trán đó, Billy gọi cho Pete và hỏi rằng, liệu với vai trò 1 chuyên gia phân tích, Pete có chọn Billy ngay vòng đầu tiên không (Billy vốn từng là một cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp). Pete đã nói rằng anh ta chỉ chọn Billy sau vòng đấu thứ 9, không kèm theo phụ cấp. Và rằng lẽ ra Billy nên từ chối đề nghị trở thành cầu thủ chuyên nghiệp ngay khi tốt nghiệp trung học mà nên nhận học bổng của trường Standford.

Billy nhớ lại, từ khi còn bé anh đã được bố dạy cho những bài bóng chày cơ bản. Lên đến trung học, anh chơi thể thao rất tốt, cả bóng đá, bóng rổ và nhất là bóng chày. Anh là cầu thủ hiếm hoi sỡ hữu được một lúc nhiều kỹ năng: chạy, ném bóng, đánh bóng, bắt bóng. Và khi tốt nghiệp cấp 3, những nhà tuyển trạch của đội New York Mets, một đội khá nổi tiếng thuộc hệ thống NBL (Giải bóng chày nhà nghề Mỹ), đã đến gặp anh và gia đình, để đề nghị anh về chơi cho họ với một mức thù lao rất hấp dẫn. Cùng lúc đó, trường ĐH danh tiếng Standford cũng đưa ra một học bổng toàn phần để muốn Billy về trường. Cuối cùng Billy đã từ chối Standford, để theo nghiệp bóng chày, một quyết định mà sau này anh giải thích là ‘sai lầm duy nhất mà tôi đã chọn chỉ vì tiền’.

Billy chọn thi đấu cho New York Mets, và sự nghiệp cầu thủ của anh thật sự là một nỗi thất vọng lớn, nếu so với những gì các nhà tuyển trạch và chuyên gia bóng chày dự đoán rằng, anh sẽ trở thành một ngôi sao. Sự nghiệp cầu thủ bết bát của anh kéo dài được 6 năm, anh quyết định giã từ nó vào năm 1990 để ứng tuyển trở thành một chuyên viên tuyển trạch cho đội Athletics Oakland. Sau 3 năm ở vị trí này, anh đã trở thành trợ lý của giám đốc điều hành, và 5 năm sau, chính thức nắm quyền điều hành câu lạc bộ.

Ngày hôm nay, khi ngồi ở vị trí này, khi đối diện với những thất bại trong hiện tại, lẫn quá khứ, Billy nhận ra rằng, thật là sai lầm khi cứ để cho những nhà tuyển trạch lựa chọn cầu thủ dựa trên những đánh giá hoàn toàn cảm tính như vậy. Họ đã sai lầm, ít ra là với trường hợp của cá nhân anh. Và nếu theo lối cũ, The A’s sẽ tiếp tục thất bại dưới tay những đội bóng lớn.

If we played like The Yankees in here, we would lose by The Yankees out there.

speaks Billy in the meeting of the A’s team’s scout. 

Sau khi nhận thấy tiềm năng của Pete, Billy đã đưa anh về làm trợ lý GM (General Manager) và là chuyên viên phân tích cầu thủ cho đội The A’s. Phương pháp phân tích của Pete là dựa trên những hệ số tính toán, đo lường một cách khoa học, tất cả những chỉ số hoạt động của một cầu thủ ở trên sân, từ đó đưa ra dự đoán về số điểm mà cầu thủ đó có thể ghi được trong một mùa bóng. Pete đã lập luận rằng, ‘các đội bóng lẽ ra không nên bỏ tiền mua cầu thủ, cái họ cần mua là chiến thắng. Và để có được chiến thắng thì họ phải ghi được điểm. Vậy tức là, anh phải mua điểm, chứ ko phải mua cầu thủ.’

Thật ra cách phân tích này không hề mới, nó đã được một người tên là Bill James tìm tòi và viết ra trong những cuốn sách phân tích về bóng chày từ thập niên 80s. Trong đó ông dùng toán học để phân tích các cầu thủ, phân tích các huấn luyện viên dựa trên những con số đánh giá các hoạt động của họ ở trên sân bóng, từ đó chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thắng hay thua của một đội bóng.

Pete đã cho rằng ‘hiện tại phần nhiều cầu thủ được đánh giá quá cao. Đa phần những đánh giá này đều là chủ quan, dựa trên tuổi tác, ngoại hình, tính cách, dư luận và một số kỹ năng của cầu thủ đó. Trong khi một số lớn khác thì lại bị đánh giá thấp hơn so với năng lực mà họ thật sự sở hữu chỉ vì một vài nhược điểm ngớ ngẩn ở bản thân‘. Pete thuyết phục Billy rằng, bằng việc phân tích gần 20,000 cầu thủ của giải nhà nghề, chắc chắn sẽ sàng lọc ra được một danh sách 25 cầu thủ có đủ năng lực mà đội The A’s có khả năng mua được, để làm nên một đội hình vô địch.

Jonah Hill trong vai Peter Brand

Và Billy quyết định ủng hộ lý thuyết của Pete trong việc tuyển chọn những cầu thủ để bổ sung cho 3 vị trí trụ cột đã bị khuyết. Không cần phải bàn thảo gì nhiều, Billy đưa ra ngay những chọn lựa của mình: Chad Bradford: cầu thủ ném bóng có cách ném rất kỳ cục và mắc cười, Scott Hatteberg: cầu thủ bắt bóng & ném bóng nhưng bị chấn thương khuỷu tay mà Billy muốn đào tạo anh thành 1 cầu thủ chơi vị trí first base (vị trí cực kỳ khó chơi) và David Justice: một cầu thủ đã 37 tuổi, bị chấn thương chân và đã qua thời kỳ đỉnh cao. Cả 3 đều có điểm chung: bị đánh giá thấp bởi các đội bóng khác, và có thể mua được với giá rất hợp lý. Nhưng quyết định để mua họ, là dựa trên hệ số OBP (on base percentage) trung bình của cả 3 cầu thủ cộng lại tương đương với OBP của 3 trụ cột đã ra đi.

Lựa chọn của Billy ngay lập tức vấp phải sự chống đối của hội đồng tuyển trạch, nơi mà các ông già chỉ muốn làm việc theo cách thức cũ: kinh nghiệm & cảm quan cộng thêm dư luận. Họ không cho rằng việc áp dụng khoa học với tính toán, số liệu vào bóng chày là có thể thành công. Họ bảo thủ và chỉ muốn giữ nguyên cách làm việc cũ. Mâu thuẫn đó dẫn đến việc Trưởng hội đồng tuyển trạch của The A’s là Grady đấu khẩu với Billy và bị sa thải. Chưa hết, huấn luyện viên trưởng của The A’s là Art Howe, do mâu thuẫn về bản hợp đồng chỉ có thời hạn 1 năm vơí Billy, nên chỉ muốn sử dụng những cầu thủ cũ của đội mà không dùng những nhân tố mới. Billy buộc lòng phải chơi chiêu bài cuối cùng: bán đi những cầu thủ ngôi sao còn lại của đội, để ép Art Howe phải dùng những cầu thủ mới tuyển về. Được ăn cả, ngã về không.

Quyết đoán và dứt khoát khi đưa ra quyết định của mình

Và kết quả là… thời điểm đầu mùa giải, The A’s thua liên tục 14 trận trong chuỗi 17 trận. Những chỉ trích bắt đầu dồn dập nổi lên về việc Billy chắc chắn sẽ thất bại với những thử nghiệm và lý thuyết của anh. Truyền thông và giới bình luận còn nhẫn tâm hơn khi gợi ý rằng, điều mà The A’s cần thay đổi không phải là cách tuyển chọn cầu thủ hay xây dựng lại đội bóng, mà có lẽ là một giám đốc điều hành mới. Billy, với sự quả quyết và độc lập của mình, anh vẫn kiên định theo đuổi đến cùng ý định, không dao động.

Không chỉ dừng lại ở việc mua bán cầu thủ và cứng rắn với ban điều hành, chính Billy & Pete bắt đầu tiếp xúc với từng nhóm cầu thủ, phân tích cho họ thấy những điểm mạnh, điểm yếu của từng người dựa trên những băng ghi hình, dựa trên phần mềm phân tích, để khuyến khích họ làm tốt những gì đã làm, thay đổi những gì chưa tốt và cũng là để tiếp cho họ tinh thần khích lệ, khát khao chiến thắng. Sau đó, kết quả được cải thiện rõ rệt, The A’s bắt đầu biết đến chiến thắng. Và không những vậy, họ còn thắng 1 mạch … 14, rồi, 16, rồi 18, 19 trận liên tiếp. Và ngày 4 tháng 9 năm 2002, The A’s thắng trận thứ 20 trận liên tiếp, lập nên kỷ lục mới trong lịch sử 103 năm của giải NBL, phá vỡ kỷ lục 19 trận thắng liên tiếp trước đó của N.Y Yankees & Boston Red Sox.

Lập nên 1 kỷ lục mới trong lịch sử bóng chày Mỹ, đó quả là 1 thành tích đáng tự hào. Nhưng với Billy Beane, đó không phải là mục đích của anh. Anh đã nói với đại ý rằng ‘Tôi không ở đây để lập ra kỷ lục. Nếu chúng ta không thắng được trận chung kết, họ sẽ gạt bỏ chúng ta. Những gì chúng ta đang nỗ lực làm sẽ bị xoá bỏ. Đội nào đó thắng giải World Series (World Cup của bóng chày) thì tốt cho họ. Nhưng nếu chúng ta thắng, với 1 cái đội như thế này, với một nhúm kinh phí như kia, thì chúng ta, chúng ta sẽ thay đổi trò chơi này mãi mãi.’

Thực tế, đời không như là mơ. The Athletics Oakland, với 20 trận thắng liên tiếp đó, trở thành đội đứng đầu bờ Tây, bước vào trận đấu giành quyền chơi trận chung kết, và lần này… lại thất bại trước đội Minnesota Twins (đứng đầu khu vực Trung tâm). Như thế, mục tiêu mà Billy đặt ra, vẫn chưa thể nào đạt được.

Nhưng với thành tích ấn tượng mà anh đã chứng tỏ, anh nhận được một đề nghị mời về làm GM cho đội Boston Red Sox, một trong những đội bóng chày giàu truyền thống và hàng đầu thế giới, với một mức thù lao khủng nhất thời điểm đó: 12 triệu 500 ngàn USD. Nếu Billy nhận lời đề nghị này, anh sẽ trở thành GM được trả lương cao nhất trong lịch sử thể thao Mỹ. Nhưng… Billy Bean đã từ chối để tiếp tục ở lại với The Athletics Oakland.

Lý do có thể được giải thích rằng, trong quá khứ, anh đã từng 1 lần quyết định sai lầm chỉ vì tiền, và anh không muốn lặp lại sai lầm đó một lần nào nữa.

2 năm sau, Boston Red Sox đã chiến thắng ở giải World Series, lần đầu tiên kể từ năm 1918, bằng cách áp dụng phương thức thành công từ The A’s.

Còn Billy, cho đến thời điểm này, vẫn đang nỗ lực để tìm kiếm chiến thắng ở trận chung kết.

‘Moneyball’ khép lại, nhưng nó đã để trong lòng tôi một sự khích lệ và nguồn cảm hứng mãnh liệt. Kết cấu film chặt chẽ, tối giản, tập trung, giống với ‘Up In The Air’. Quay & dựng phim là một sự kết hợp vừa điện ảnh với những khung hình đặc tả, những cảnh cận, cảnh rộng hợp lý, nhưng xen vào đó là những đoạn ‘giả’ tư liệu khiến cho người xem cảm giác mọi thứ đang thật sự diễn ra. Screenplay rất tuyệt vời, tôi luôn thích những bộ film có screenplay hay, lời thoại khúc chiết, chính xác, gãy gọn và đi thẳng vào tim, vào óc.

Nhưng tuyệt vời nhất, theo tôi là diễn xuất của Brad PittJonah Hill (vai Pete Brand).

Brad đã diễn quá tốt, lột tả được toàn bộ chân dung, tính cách của một người đàn ông với công việc của mình: đơn độc, cứng rắn, quyết tâm, kiên định nhưng cũng có những lúc rất nóng nảy, những khoảng lặng trầm tư đầy cảm xúc và nhạy cảm. Brad đã khắc ghi được hình ảnh một người đàn ông thật sự cô độc, trong cuộc sống, công việc, trong từng quyết định của mình, và sống đến cùng một khi đã đặt niềm tin.

Billy Bean luôn cô độc với những cảm xúc và suy nghĩ của mình

Còn Jonah Hill thì đây thật sự là một vai diễn đột phá của anh, từ sau ‘Superbad’. Với vóc người to béo, anh ko lợi dụng để đóng mãi những vai hài hước, tầm phào, mà anh đã thật sự lột xác để tạo nên chân dung một chuyên viên phân tích hiền lành, nhưng thẳng thắn, nhạy cảm và hết lòng với công việc mình làm.

Tôi sẽ nhớ mãi đoạn hội thoại này giữa Billy & Pete:

Pete: This is the kind of decision that gets you fired. It is!

Billy: Yes, you’re right. I may lose my job, in which case I’m a 44 year-old guy with a diplomat and a daughter that I’d to be able to send to college. You’re 25 years old with a degree from Yale and a pretty impressive apprenticeship. I don’t think we’re asking a right question. I think the question we should be asking is, ‘Do you believe in this thing or not?

Pete: I do.

Billy: It’s a problem you think we need to explain ourselves. Don’t. To anyone.

Pete: Okay.

Billy: Now I’m gonna see this thing through, for better or worse.

Trong hầu hết mọi trường hợp, chiến thắng đi liền với hạnh phúc, niềm vui và vinh quang, danh vọng. Nhưng đôi khi, thất bại lại có nét lãng mạn của riêng nó. Và bóng chày đối với Billy Beane chính là nơi anh tìm thấy sự lãng mạn đó.

Brad Pitt ký tặng fans của The A’s trong buổi premiere film.

Năm nay thật sự không có nhiều film để lại cảm xúc dồi dào để tôi có thể làm 1 bài tổng kết Top Films như năm ngoái.

Nhưng ‘Moneyball’, thì đủ hay để tôi có thể viết 1 bài dài đến thế này.