Trải nghiệm Tokyo – cảm hứng từ Haruki Murakami: phần 1.

Hành trình đến Nhật của tôi chỉ có vỏn vẹn 5 ngày (không tính 1 ngày đi về). 2 ngày ở Osaka là dành cho Summer Sonic Festival & Radiohead. Còn 3 ngày ở Tokyo, tôi quyết định làm 1 hành trình nho nhỏ, khám phá những địa điểm mà nhà văn Haruki Murakami đã có nêu trong các tiểu thuyết của ông.

3 ngày là 1 khoảng thời gian không nhiều, nếu chia đều cho những hoạt động như ăn uống, mua sắm, etc… nên mỗi ngày tôi chỉ có thể chọn 1 địa điểm có liên quan đến Murakami để khám phá.

Ngày 1, văn phòng của Murakami.

Ngay ngày thứ 1, Tokyo đã chìm trong mưa bão suốt từ sáng sớm. Mưa và gió thổi không ngớt nhưng không thể phí thời gian ngồi nhà, tôi vẫn quyết tâm đi. Địa điểm đầu tiên mà tôi chọn đó là văn phòng của Murakami ở khu Aoyama. Aoyama là 1 khu nằm trong quận Minato ở phía tây bắc Tokyo, nơi đây nằm trên trục đường những cửa hàng thời trang cao cấp và nhà hàng sang trọng. Chúng tôi đi tàu điện ngầm từ ga Shibuya đến ga Meji-jingumae để đi bộ qua khu Cat Street, khu phố thời trang khá cool nằm trong khu Harajuku, trước khi hướng về phía Aoyama. Mưa càng về giờ trưa càng nặng hạt.

Đến khoảng 2h chiều, sau khi trú mưa thì chúng tôi bắt đầu vào khu Aoyama. Đường phố 2 bên khá là yên tĩnh, các khu dân cư nằm xen kẽ với những văn phòng và các studio thời trang. Tôi có được địa chỉ văn phòng của Murakami sau khi đã lục tung mọi ngõ ngách trên Google từ các blog và bài viết về ông. Và cho dù đã từng được cảnh báo trước rằng, ở Nhật mà có địa chỉ trong tay thì đi kiếm nhà cũng như…không có, nhưng tôi vẫn muốn thử xem sao, trải nghiệm mà.

Và sau gần 1 tiếng mò theo Google map, Google không thể định vị được chính xác địa chỉ mà tôi nhập vào, chỉ có thể tìm mang máng cái khu đó, thì tôi đã tin là…mình thất bại. Không thể tìm được vị trí cái nhà đó nằm ở đâu. Chúng tôi quyết định vào 1 tiệm Family Mart gần đó để hy vọng có thể hỏi ra gì đó. Hy vọng loé lên khi chúng tôi may mắn gặp được 1 cô bé bán hàng người Việt, nhưng cô bé sau khi lật bản đồ, cũng không biết địa chỉ này ở đâu. Và cô bé nhờ đến các bạn đồng nghiệp người Nhật, sau 1 lúc họ trao đổi thì thông tin chúng tôi có được cũng chỉ là địa chỉ này nằm ở đâu đó trong khu mà chúng tôi đã đi qua. Chúng tôi quyết định vòng lại đó để tra tìm thật kỹ. Thêm nửa tiếng dầm mưa sục sạo và kết quả vẫn…hệt như cũ. Thật sự bó tay. Tìm kiếm văn phòng của Murakami là thất bại đầu tiên. Và vì trời mưa không ngớt, nên tôi đã không chụp 1 tấm hình nào khu Aoyama này, coi như chuyến đi nửa ngày hoàn toàn là công cốc.

Thật ra thì tôi tìm đến văn phòng của Murakami không phải để tìm cách gặp ông ấy, mà tôi chỉ muốn có dịp đến thật gần, cảm nhận bầu không khí và mọi thứ xung quanh nơi ông vẫn ngồi viết hàng ngày, nhà văn và tác giả mà tôi ngưỡng mộ nhất.

Bonus 2 tấm hình tôi chụp khi ngồi trong 1 quán cafe trú mưa ở khu Aoyama.

Góc quán cafe nhìn ra màn mưa.

Góc từ trong tiệm cafe nhìn ra màn mưa.

 

Tấm này tôi chụp bằng máy phim khổ vuông qua lớp kính. Trời vẫn đang mưa. Và có 2 cặp bố mẹ dẫn 2 con rất dễ thương chia tay nhau đi 2 hướng.

Tấm này tôi chụp bằng máy phim khổ vuông qua lớp kính. Trời vẫn đang mưa. Và có 2 cặp bố mẹ dẫn 2 con rất dễ thương chia tay nhau đi 2 hướng.

Ngày 2, Jazz bar & Nakamuraya cafe

Ai quan tâm thì cũng đều biết Murakami rất mê âm nhạc. Ông có 1 bộ sưu tập đồ sộ đĩa vinyl ở tại văn phòng. Và trong đó nhạc Jazz là loại nhạc đã gắn bó với ông từ thời thanh niên. Murakami đã khởi nghiệp với 1 quán bar nhạc Jazz là Peter Cat tại Tokyo. Và sau này trong tác phẩm của ông cũng xuất hiện 1 quán bar nhạc Jazz, đó là quán DUG.

Quán DUG đã từng xuất hiện trong 1 đoạn ở cuốn “Rừng Nauy”. Đoạn mà nhân vật Toru và Midori, sau 1 giờ học tiếng Đức, đã bắt 1 chuyến xe bus đến khu Shinjuku và vào quán bar ở dưới tầng hầm, để được uống rượu vào buổi chiều mà không cảm thấy xấu hổ, ngại ngùng.

Đây có lẽ là địa điểm dễ tìm nhất trong hành trình khám phá Tokyo theo kiểu Murakami của tôi. Chỉ cần nhập vào Google map “DUG jazz bar” và đi theo hướng mũi tên chỉ, là bạn sẽ đến được quán bar vì có biển hiệu đàng hoàng. Quán mở từ năm 1967 và là 1 trong những quán tiêu biểu cho thời kỳ nhạc Jazz thịnh hành ở Nhật Bản thập niên 60-70s. Quán có những ngày chơi nhạc sống và những ngày không. Lúc chúng tôi đến thì quán chỉ mở DVD nhạc Jazz nhưng vẫn có phụ thu một ít (hình như là 500 Yên thì phải).

Biển hiệu của quán DUG

Biển hiệu của quán DUG

Menu của quán khá là đơn giản, không có gì quá đặc biệt hay signature nên tôi chỉ gọi một ly Old-Fashioned như bình thường. Ly rượu làm ổn, khá giống những ly Old-Fashioned kiểu Nhật tôi vẫn hay uống ở Sài Gòn.

Old-Fashioned cocktail kiểu Nhật.

Old-Fashioned cocktail kiểu Nhật.

Không gian của quán vừa phải, không quá nhỏ, không quá to. Không hiểu sao nhìn những cái bàn gỗ, ngọn nến đặt trên bàn và 1 kệ sách nhỏ, tôi lại nhớ đến Era cafe. Era… nơi tôi đã ngồi và lớn lên suốt thời thanh niên. Và quán này cho tôi cái cảm giác thân thuộc đó. À mà lẽ ra tôi nên gọi Daiquiri chứ không nên uống Old-Fashioned. Daiquiri là món cocktail hay xuất hiện trong cuốn “Phía Nam Biên Giới, Phía Tây Mặt Trời”. Hồi xưa trước khi đọc cuốn đó, có thời gian đến Era buổi tối muộn, tôi rất hay gọi Daiquiri. Rượu ở Era pha nhẹ, ngọt và mát, thêm lớp muối mặn mặn bám ở thành ly, uống rất thích. Nếu có lần sau quay lại, nhất định tôi sẽ uống Daiquiri.

Một góc không gian của quán gợi tôi nhớ về Era cafe.

Một góc không gian của quán gợi tôi nhớ về Era cafe.  

Logo của DUG jazz bar.

Phần này tôi viết hơi ngược một tí. Lẽ ra phải viết về quán Nakamuraya cafe trước, vì chúng tôi đi ăn trước rồi mới đi uống rượu. Nhưng tôi lại thích viết về quán rượu trước, thế nên bây giờ quay ngược lại đi ăn nhé.

Nakamuraya cafe, đây là 1 địa điểm mà tôi gọi là … tricky nhất trong chuyến hành trình khám phá này. Tricky là bởi vì, lẽ ra chúng tôi đã không tìm ra địa điểm này, nếu không có một chút… may mắn, kèm theo cơn đói cồn cào.

Tiệm Nakamuraya cafe này xuất hiện trong cuốn 1Q84, trong một đoạn hội thoại giữa nhân vật chính Tengo và nhân vật Komatsu. Komatsu đã sắp xếp cho Tengo gặp nhân vật cô bé Fuka-Eri vào lúc 6h tối để cho một cuộc nói chuyện dài.

Theo như chỉ dẫn trên các blog thì Nakamuraya cafe cũng nằm ở khu Shinjuku, và gần với nhà sách Kinokuniya. Nhà sách Kinokuniya ở Shinjuku cũng có xuất hiện trong cuốn 1Q84, và nơi đây thậm chí còn là nơi mà Murakami đã khởi nghiệp sự nghiệp viết lách của ông bằng việc đến mua 1 cây bút máy Sailor và 1 tập giấy viết để viết bản thảo truyện ngắn đầu tay.

Hình chụp trước của nhà sách Kinokuniya. Sưu tầm từ: https://randomwire.com/murakamis-tokyo-part-3/

Trở lại với Nakamuraya cafe, thì khi tôi đi theo chỉ dẫn của Google map, tôi đã tìm đến được khu vực đó, nhưng đi qua đi lại mà vẫn không thể xác định được cái quán cafe đó nằm ở chỗ nào. Xem lại các bài review trên blog thì có chụp hình 1 toà nhà mà theo đó thì quán nằm ở tầng 6. Chúng tôi tìm thấy toà nhà đó, nhưng vấn đề là, không có quán Nakamuraya cafe nào ở tầng 6 cả. Mà ở tầng 6 là 1 nhà hàng đồ nướng tên hoàn toàn khác. Dò hết danh sách các quán trong nhà hàng, cũng không thấy có tên Nakamuraya. Tôi bắt đầu hoang mang và nghĩ hay là quán đã đổi địa điểm đi chỗ khác? Google thì vẫn không cho ra được thông tin gì hơn. Quá mệt và đói rồi. Chúng tôi bảo nhau là thôi kiếm quán nào đó ăn đại vậy. Tôi nhìn lại 1 lần nữa vào danh sách các quán trong toà nhà thì thấy có 1 quán ăn càri ở tầng B2 tên là Manna. Ok thôi xuống đó đại vậy.

Trước cửa Manna cafe

Trước cửa Manna cafe

Và thật bất ngờ, khi xuống đến B2, trước mắt chúng tôi chính là quán… Nakamuraya cafe. Vâng, quán Nakamuraya cafe chính là Mana. Vội vàng bước vào, nhìn kỹ thực đơn, tôi thấy có món Nakamuraya curry đặc biệt. Vậy là chắc chắn quán này rồi. Vì Nakamuraya vốn nổi tiếng là nhà hàng đầu tiên mang cari Ấn đến Tokyo. Đồng thời trang phục của nhân viên và lối bày trí cũng giống hệt trong tấm hình trên các blog.

Bìa thực đơn của Manna. Chữ Nakamuraya cafe ở bên dưới.

Bìa thực đơn của Manna. Chữ Nakamuraya ở bên dưới.

Nana-3

Một góc không gian và cách bày trí của quán.

Tôi không ngần ngại gọi ngay 1 set cơm cari đặc biệt và nhân tiện hỏi thăm cô phục vụ là có phải đây là quán mới, còn quán trên lầu 6 là chuyển xuống đây không. Khổ nỗi các bạn cũng biết đấy, người Nhật rất hạn chế tiếng Anh nên họ chỉ có thể nghe và nói những thông tin đơn giản. Nhưng tôi phần nào cũng đã khẳng định được đây chính là quán mà mình tìm rồi.

Set cơm khá là đơn giản và đồ ăn hơi ít so với tôi. Nhưng đồ ăn thật sự rất ngon. Tôi gọi một ly bia tươi Kirin đi kèm theo set. Bia hơi đắng một chút. Thế là cuối cùng thì tôi cũng đã may mắn tìm được quán này. Nếu lúc đó mà chúng tôi bỏ đi chỗ khác, hay lên lầu 6 vào nhà hàng đồ nướng thì chắc chắn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy Nakamuraya cafe ở tầng B2 đâu.

Set cơm cari đặc biệt lựa chọn 2 món. Tôi chọn cari kiểu Nakamuraya và cari rau củ.

Set cơm cari đặc biệt lựa chọn 2 món. Tôi chọn cari kiểu Nakamuraya và cari rau củ.

Cơm đã ăn, rượu đã uống, tôi còn 1 địa điểm cuối cùng của chuyến hành trình, sẽ viết tiếp cho các bạn đọc vào blog sau nhé. Vì blog cũng dài rồi, đọc dài quá ngán lắm :)).

Advertisements

Đầu xuân viết 1 chút về rượu whisky của Suntory.

Đầu xuân khai trương cái blog 1 chút cho cả năm bớt ế ẩm J. Suốt năm rồi chẳng viết được mấy bài. Năm nay hy vọng sẽ bớt lười một tí.

Năm nay khai trương sẽ là 1 chủ đề hoàn toàn mới, không phải âm nhạc phim ảnh tình cảm mà sẽ là về….rượu whisky.

Tôi bắt đầu thích tìm hiểu các loại rượu từ khi còn nhỏ, lúc xưa hay đọc mấy cuốn Kiến thức ngày nay, thường có bài viết về rượu cognac. Thời thập niên đầu 90, ở Sài Gòn vẫn còn chuộng các loại brandy/cognac Napoleon, Rémy Martin… Sau này thì mới đến rượu vang và gần đây thì dân sành uống mới tìm hiểu nhiều về whisky.

Đối với tôi, là đàn ông thì chỉ cần biết và uống whisky là đủ J. Tôi bắt đầu thích whisky từ khoảng năm 2010, khi đọc nhiều truyện của Haruki Murakami. Lúc đó chỉ biết uống linh tinh vài loại blended scotch & bourbon quen nhãn. Đến năm 2013 tôi mới bắt đầu tìm hiểu và dành thời gian thử uống những loại single malt và bây giờ thì thật sự ‘mê’.

Hôm nay tôi sẽ dịch 1 bài viết từ tạp chí Conde Nast Traveler, viết riêng về whisky Nhật nói chung và whisky của nhà Suntory nói riêng, nhân dịp năm mới đang uống Hibiki 17yrs phiên bản giới hạn, và cũng thấy kha khá các bạn quen thích whisky của Nhật.

Bài viết nhan đề ‘Whisky Nhật Bản đã đánh chiếm thế giới như thế nào?’ viết bởi Meredith Bethune, xuất bản ngày 20 tháng 07 năm 2015.

Ngành công nghiệp whisky Nhật đang sản xuất ra những sản phẩm đánh bại chính những sản phẩm truyền thống lâu đời của người Scotland. Một chuyên gia trong ngành sẽ chia sẻ về việc họ đã làm điều đó ra sao.

Shinjiro Torii mở nhà chưng cất whisky Nhật đầu tiên ở vùng Yamazaki, 1 vùng đất nằm giữa Kyoto và Osaka vào năm 1923. Trong thời đại mà hầu hết người Nhật chỉ uống rượu sake, nhà doanh nghiệp đầy tầm nhìn này đã biến 1 cửa hàng nhỏ chuyên bán rượu vang nhập khẩu thành một công ty thành công với cái tên Kotobukiya, mà sau này đổi tên thành Suntory. Ông ta đã tin tưởng vào bước đi tiếp theo của mình là mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang việc làm rượu và phân phối rượu whisky ở Nhật Bản. Nhưng khi đó, chính ông cũng chưa bao giờ mong đợi sẽ có một ngày sản phẩm của mình có thể đánh bại được đất nước sản sinh ra thứ nước màu vàng hổ phách này, Scotland. Nhưng năm 2014 vừa rồi, Jim Murray, một nhà phân tích và đánh giá whisky được ngưỡng mộ hàng đầu thế giới, đã trao danh hiệu ‘Whisky mạch nha đơn ngon nhất thế giới’ cho chai whisky Yamazaki Single Malt Sherry Cask 2013.

Chai Yamazaki Sherry Cask 2013 giờ đây đã trở thành 1 của quý hiếm.

Tôi đã may mắn được thưởng thức 1 shot Yamazaki Sherry Cask 2014 (năm 2014 chứ không phải 2013, 2013 bây giờ không thể tìm đâu ra hàng mà uống nữa rồi) vào đầu năm ngoái ở quán bar chuyên về whisky, The Auld Alliance tại Singapore. Và đối với tôi, đó thật sự là ‘the most wonderful whisky I have ever tasted in my life’.

Đây chỉ là 1 góc của The Auld Alliance bar. Thiên đường của whisky ở Singapore.

Nhà chưng cất Yamazaki, sở hữu bởi hãng Suntory, mọc lên giữa một ngọn đồi xanh mướt, tô điểm xung quanh là những cánh rừng tre cao vút và đền thờ thần Shinto. Toạ lạc gần nơi từng là phòng trà xây bởi nghệ nhân Sen no Rikyu, một nghệ nhân chuyên về trà sống ở thế kỷ 16, người được vinh danh bởi đã đưa nghệ thuật trà đạo Nhật bản trở nên hoàn hảo. Ông đã bị mê hoặc bởi nguồn nước trong vắt và tinh khiết tuyệt đối dành cho việc pha trà. Torii sau đó cũng có cùng lý do để lập nên nhà chưng cất đầu tiên của mình ở Yamazaki. Năm 2015 đánh dấu lịch sử 92 năm thành lập nhà chưng cất này. Suntory hiện có khoảng 800 ngàn thùng whisky đang trữ và chừng đó vẫn chưa thể đủ cho nhu cầu ngày càng tăng trên toàn thế giới.

Nhà chưng cất Yamazaki nằm trên ngọn đồi

Makoto Sumita, General Manager of Quality Communication (không biết dịch chức danh này ra sao ?!), đã làm việc ở Suntory hơn 30 năm, bao gồm kiêm việc là người pha trộn và quản lý nhà chưng cất Yamazaki. Với vai trò là 1 chuyên gia trong ngành, ông chia sẻ về những điểm đã làm nên sự khác biệt của whisky Yamazaki so với phần còn lại của thế giới.

Makoto Sumita, chuyên gia whisky của nhà Yamazaki.

Shinjiro Torii đã bước vào một lĩnh vực chưa từng được khai phá trước đây ở Nhật Bản khi quyết định mở nhà chưng cất đầu tiên. Lý do vì sao ông ấy nhất định phải chọn Yamazaki để làm điều đó?

Có rất nhiều dòng sông chảy ra ngoài Kyoto là yếu tố rất quan trọng trong việc làm nên whisky Nhật. Chúng tôi có được nguồn cung cấp nước vô cùng tốt ở khu vực này.

Bên cạnh việc có được nguồn nước tốt, những yếu tố quan trọng khác nào trong việc làm rượu whisky?

Phải có một độ ẩm thích hợp bởi vì whisky sinh trưởng trong thùng gỗ qua rất nhiều năm. Ba dòng sông – Katsua, Uji và Kizu đều ở đây. Khi 3 dòng sông này gặp nhau, chúng mang đến cho vùng này thời tiết ẩm ướt. Nó vô cùng thích hợp cho whisky sinh trưởng. Ở đây cũng gần như không có tuyết rơi. Thời tiết mà khô quá thì không thích hợp cho việc ủ whisky trong thùng gỗ.

Người Nhật đã bắt đầu làm whisky từ năm 1924, nhưng người nước ngoài gần nhưng không quen thuộc với whisky Nhật cho đến gần đây. Thời điểm này thì khách hàng bên ngoài Nhật Bản mới bắt đầu quan tâm đến whisky Yamazaki?

Trước năm 2003, rất ít người biết chúng tôi đang làm whisky ở Nhật, nhưng gần đây thì chúng tôi có ‘fans’ trên toàn thế giới. Giải thưởng đầu tiên mà chúng tôi có được là huy chương vàng ISC (International Spirits Challenge) cho chai Yamazaki 12 năm vào năm 2003 và đến năm 2010 thì được trao tiếp lần nữa. Bắt đầu từ đó mọi người mới thưởng thức whisky của chúng tôi. Giờ đây chúng tôi có hơn 130 ngàn lượt khách viếng thăm nhà chưng cất Yamazaki hàng năm và hơn 10% trong đó là đến từ nước ngoài.

Những người làm whisky phải ước lượng được nhu cầu cho sản phẩm của mình nhiều năm trước khi bắt đầu quá trình ủ rựou. Suntory đang làm gì để giải quyết nhu cầu đang tăng vọt từ những thị trường nước ngoài?

Gần đây nhu cầu tăng cao và chúng tôi đã ra mắt 4 tĩnh chưng cất mới 1 năm rưỡi trước. Chúng tôi đang làm việc với hơn 100% công suất để có thể đáp ứng được nhu cầu.

Whisky Scotland nổi tiếng với việc kết hợp nguồn rượu từ những nhà chưng cất khác nhau để tạo nên sự đa dạng. Nhưng Suntory thì chỉ mới có 2 nhà chưng cất (nhà chưng cất kia là Hakeshu, nơi cho ra đời nhãn hiệu Hakushu, nằm ở phía Tây Tokyo). Làm cách nào ông có thể tạo ra được sự đa dạng về hương vị?

Hầu hết ở Scotland và thậm chí ở Nhật, khi bạn đến thăm 1 nhà chưng cất bạn sẽ thấy các tĩnh đồng chưng cất (thiết bị dùng để chưng cất nên rượu) đều có 1 hình dạng giống hệt nhau. Nhưng ở Suntory, tất cả các tĩnh chưng cất đều hơi khác nhau 1 chút. Suntory chỉ có 2 nhà chưng cất, nhưng chúng tôi vẫn làm ra được nhiều loại whisky khác nhau bởi vì sự khác nhau của những tĩnh chưng cất và sự khác biệt của rất nhiều loại thùng gỗ chứa. Hơn 90% whisky được chứa trong thùng gỗ sồi trắng của Mỹ, nhưng Suntory còn chứa trong thùng gỗ sồi Nhật mizunara và thùng gỗ chứa rượu sherry. Thậm chí chỉ riêng cho loại whisky mạch nha đơn Yamazaki thôi thì chúng tôi đã dùng những tĩnh chưng cất khác nhau, và thùng gỗ có kích thước lẫn loại gỗ khác nhau, nhưng chất lượng thì vẫn đồng nhất vì nó chỉ đi ra từ 1 nhà chưng cất mà thôi.

Nói thêm trên điểm này, thì ông nghĩ có phải whisky mạch nha đơn (single malt whisky) luôn có chất lượng vượt trội hơn so với whisky pha trộn (blended whisky)?

Tôi thì thích cả 2 ;). Whisky làm từ các loại hạt thường được dùng để pha trộn tạo nên blended whisky, và nó có vị ngọt hơn. Nó rất thích hợp cho những người mới bắt đầu. Whisky pha trộn thường có vị cân bằng, êm dịu và mềm mại trong khi whisky mạch nha đơn thì sẽ cá tính, mạnh mẽ và thường ẩn chứa nhiều vị khói.

Và whisky càng lâu đời (nhiều tuổi) thì càng ngon hơn?

Nhiều người tin rằng càng nhiều thì càng ngon hơn, tuy nhiên điều đó không phải lúc nào cũng đúng. Nó còn tuỳ thuộc vào loại thùng chứa. Một vài loại whisky trở nên ngon hơn khi sinh trưởng, nhưng 1 vài loại khác thì lại dở đi. Người pha trộn phải nếm thử từng thùng và sẽ quyết định loại whisky nào thích hợp với loại thùng nào. Hiện tại thì không có 1 quy luật nào cho việc ủ whisky ở Nhật Bản.

Note của cá nhân tôi: tôi đã từng kiểm chứng bằng việc thử 2 chai, 1 chai The Balvenie 15 tuổi single cask (whisky mạch nha đơn của nhà The Balvenie được ủ trong 1 loại thùng nhất định, không pha trộn các loại thùng với nhau) với 1 chai The Balvenie 21 tuổi Portwood (pha trộn 3 loại thùng và hoàn thiện sau cùng là thùng chứa rượu Port) thì cá nhân tôi vẫn thích chai 15 tuổi hơn, cá tính nhiều hơn ;).

Chai The Balvenie 15yrs Single Barrel được đóng chai và viết tay số lượng trên từng nhãn chai.

Yamazaki đã đoạt rất nhiều giải thưởng và được ghi nhận trên toàn cầu. Đâu là mục tiêu tương lai của nhà chưng cất này?

Mục tiêu của chúng tôi là tiếp tục hoàn thiện và tinh luyện, luôn luôn cố gắng làm rượu tốt hơn những gì chúng tôi làm ra cách đây 10 năm. Chúng tôi luôn cố gắng mang những cải tiến và phát minh vào trong những gì mình làm. Quy trình chế biến và làm ra whisky trên toàn thế giới gần như chẳng hề thay đổi qua bao nhiêu năm, nhưng ở Suntory chúng tôi luôn cố gắng thêm vào 1 chút gì đó mới.

Nguồn: http://www.cntraveler.com/stories/2015-07-20/how-yamazaki-japanese-whisky-is-taking-over-the-world

Saigon, Xuân Bính Thân 2016.

Hãy thả cá heo về với đại dương !!!

Đêm qua sau khi xem xong “The Cove”, tôi không tài nào ngủ được.

Trong đầu tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng kêu cứu trong tuyệt vọng của hàng trăm chú cá heo.

Và cái hình ảnh 1 vùng nước đỏ ngầu máu vẫn ám ảnh trong tâm trí tôi.

Nhưng trước khi kể với các bạn 1 sự thật khủng khiếp, thì tôi muốn cảm ơn Rwo, một người mà tôi chưa quen biết thât sự, nhưng đã giới thiệu để tôi được xem bộ film đầy ý nghĩa này.

“The Cove” là 1 bộ film tài liệu. Và đây là 1 bộ film về 1 câu chuyện CÓ THẬT. CÂU CHUYỆN CÓ THẬT. Chứ không phải DỰA TRÊN 1 câu chuyện có thật.

Tuy là 1 bộ film tài liệu, nhưng “The Cove” không hề khô khan tẻ nhạt, mà ngược lại còn rất thu hút, khiến ta chăm chú dõi theo từ đầu đến cuối để cùng với những người làm film, quyết đi tìm ra sự thật.

“The Cove” được thực hiện bởi đạo diễn Louie Psihoyos, từng là photographer của National Geographic.

Với diễn viên chính là Ric O’Barry. Ric O’Barry vốn là 1 huấn luyện viên cá heo nổi tiếng nhất thế giới từ những năm 1960s. Ông nổi tiếng vì đã huấn luyện 5 chú cá heo hoang dã tham gia đóng trong loạt film truyền hình “Flipper” vào thời điểm đó. Loạt film truyền hình này đã vô cùng thành công và tạo nên 1 làn sóng văn hóa hâm mộ những chú cá heo từ đó trở về sau này.

Và đáng buồn là từ bộ film đó, đã khơi nguồn cho 1 ngành công nghiệp triêu đô, nhưng đầy … nhẫn tâm: ngành công nghiệp cá heo.

Rick O’Barry

Cuộc đời của Ric O’Barry bắt đầu đổi thay, sau khi 1 trong những chú cá heo mà ông huấn luyện, đã “tự tử” trên tay ông.

Bạn sẽ tự hỏi, cá heo làm thế nào để có thể “tự tử”, phải không ? Cá heo, không giống như con người chúng ta, nó rất khó khăn để thở. Mỗi lần thở với chúng đều là 1 nỗ lực. Vì thế, khi nó thật sự không còn muốn sống nữa, thì nó chỉ đơn giản là … ngừng thở mà thôi.

Ngay sau ngày hôm đó, người ta bắt đầu thấy Ric xuất hiện ở bất cứ nơi đâu có cá heo gặp nạn, những vùng biển, những trung tâm nghiên cứu, đa số những nơi đang nuôi nhốt cá heo đó đều thuộc về các tổ chức & chính phủ, và việc duy nhất mà ông làm là giải cứu những chú cá heo và trả nó về với tự do.

Cuộc đời Ric, từ đó trở đi, đã gắn liền với việc đấu tranh nhằm giải phóng những chú cá heo vô tội. Và đã rất nhiều lần Ric phải bước vào nhà tù cũng chỉ vì liều lĩnh cắt hàng rào thả những chú cá heo bơi về với biển.

Và Ric, cho dù là 1 nhà hoạt động rất tích cực về môi trường biển, đặc biệt là cá heo, nhưng ông chưa bao giờ được chính thức chào mời đến các hội nghị về cá heo hay sinh vật biển trên toàn thế giới. Vì đơn giản là điều Ric nói, Ric cho mọi người thấy hoàn toàn đi ngược lại với những bức tranh đẹp đẽ hồng hào mà các tổ chức đó đang tô vẽ nên để che mắt dư luận.

Trong thời gian theo đuổi công việc duy nhất của đời mình đó, Ric đã khám phá ra 1 sự thật, 1 địa điểm khủng khiếp.

Đó là thị trấn Taiji, thuộc tỉnh Wakayama, Nhật Bản. Taiji là thị trấn nổi tiếng nhất ở Nhật Bản về việc đánh bắt và giết mổ cá heo, cá voi từ thế kỷ thứ 17. Với điều kiện địa lý tự nhiên nhìn thẳng ra Thái Bình Dương, bao bọc xung quanh thị trấn này là núi và biển. Ở đó, có 1 khu vực gọi là “vịnh nhỏ” (the cove). Khu vực đó hạn chế người lạ và người ngoài tiếp cận. Cấm quay film, chụp hình. Và ở đó, là nơi những ngư dân Taiji thảm sát cá heo.

Đây là “The Cove”

Họ đã làm tội ác đó như thế nào ?

Đầu tiên chúng ta cần phải biết, cái vịnh cá heo nhỏ đó của Taiji nằm ngay trên đường cá heo di trú. Mỗi năm 1 lần vào tháng 9, từng đàn cá heo bơi lội tung tăng di trú trên đường qua Thái Bình Dương, và từng đoàn thuyền của các ngư dân Taiji chỉ việc dăng sẵn lưới, họ cùng lúc dùng cây sắt gõ vào nhau để tạo ra âm thanh. Cá heo rất nhạy cảm với âm thanh. Và từng làn sóng âm thanh đó lùa chúng vào lưới của các ngư dân.

Sau đó, những ngày tiếp theo, từng đoàn, nhóm người ùa đến cái vịnh nhỏ đó, chọn lựa những chú cá heo mạnh khỏe, đẹp đẽ để chuyên chở về bán cho các trung tâm huấn luyện cá heo biểu diễn, các thủy cung & trung tâm giải trí dưới nước trên khắp thế giới. Mỗi một chú cá heo có thể trị giá đến $150.000 khi được bán đi. Và ở các trung tâm giải trí đó thì chúng ta đều biết, các chú cá heo sẽ phải biểu diễn mua vui cho khách xem suốt ngày tháng. Taiji là trung tâm cung cấp cá heo cho toàn thế giới.

Và bạn biết gì không? Những khi biểu diễn các màn nhào lộn, bơi lội ấy, và để cho trẻ em, người lớn được chiêm ngưỡng, được sờ vào, cảm giác như chúng ta đang thấy cá heo cười, có phải không? Nhưng nụ cười của cá heo là thứ dối trá & ngụy tạo dễ dàng nhất trên đời này bạn ạ. Chúng không bao giờ thích bị giam cầm, bị bắt phải nhào lộn mua vui suốt tháng năm. Cuộc sống của chúng là ở ngoài biển cả. Đó là nơi chúng thật sự thuộc về.

Tuy nhiên, những chú cá heo được chọn thì còn may mắn.

Những chú cá heo không được chọn thì sẽ đối mặt với tử thần: bị thảm sát. Chúng sẽ bị giết mổ cùng 1 lúc để xẻ thịt bán ngay tại Taiji, trong các siêu thị và thậm chí làm thức ăn trong trường học, nhà hàng. Dĩ nhiên chúng sẽ được dán nhãn mác là thịt cá voi.

Tội ác !

Nhưng chưa hết, thịt cá heo, theo nghiên cứu, có chứa hàm lượng thủy ngân cao gấp 5 lần hàm lượng thủy ngân bình thường mà 1 người được phép hấp thụ vào cơ thể. Tại sao lại thế ? Vì theo chu kỳ tuần hoàn của tự nhiên, các khí thải bay lên không trung, ngưng tụ và theo mưa rơi xuống biển. Các loài cá nhỏ là những loài dễ hấp thụ thủy ngân vào cơ thể chúng nhất. Nhưng cá nhỏ thì bị cá lớn ăn, và cá lớn thì bị cá voi và cá heo ăn. Cứ thế. Số lượng cá mà cá heo ăn càng nhiều, lượng thủy ngân tích tụ trong cơ thể nó càng cao.

Và việc giết mổ cá heo đã là 1 tội ác. Thì việc bán thịt cá heo ra thị trường cho người tiêu dùng lại còn là 1 tội ác khác cao hơn.

Cá heo, xin bạn đừng bao giờ có ý nghĩ so sánh chúng với các loài động vật khác như chó hay mèo.

Vì thứ nhất: chó còn có thể cắn người, mèo còn có thể ăn vụng. Chứ cá heo, cá heo thì chúng làm gì nên tội ??? Chưa kể, theo nghiên cứu, thì người không phải là loài động vật thông minh nhất (tính theo tỷ lệ bình quân trên dân số) mà chính cá heo mới là loài động vật thông minh nhất.

Tất cả những gì chúng làm là bạn và cứu những người đi biển gặp nạn, cứu những người chơi môn thể thao lướt sóng, và … mua vui, giải trí tiêu khiển cho con người.

Vậy mà, hàng năm, có 23.000 chú cá heo chịu thảm cảnh tàn sát này.

Nguồn lợi vô cùng to lớn từ việc giết mổ cá heo, từ việc bán cá heo cho các trung tâm giải trí là quá lớn. Và nó đóng góp vào ngân sách của thị trấn Taiji cũng như của cả Nhật Bản. Chính vì thế, tất cả từ người dân cho đến chính quyền đều làm ngơ trước tội ác này.

Không những thế, họ còn tổ chức theo dõi & ngăn cản tất cả các nhà hoạt động vì môi trường, vì động vật hoang dã có ý định tiếp cận & ngăn cản, vạch trần việc làm của họ ra trước thế giới.

Những tổ chức như Green Peace hay WWF rồi Ủy Ban Quốc Tế về Cá Voi (International Wheeling Commission) (cá heo là 1 loài thuộc họ cá voi) với hơn 60 nước thành viên, họ đã ở đâu và làm gì ? Xin thưa với bạn là họ đã bị bịt bắt, che tai, bịt mồm vì chính phủ Nhật Bản đã dùng tiền để mua lấy sự im lặng của các tổ chức này. Thật là kinh khủng!!!

Ngay từ khi Ric bước chân đến Taiji, ông đã ngay lập tức bị theo dõi & liên tục được “hỏi thăm” của cảnh sát & chính quyền Taiji về việc ông đang định làm ở đây.

Nhưng Ric không hề là người dễ dàng bỏ cuộc. Ông đã nhờ bạn bè cùng mình huy động các mối quan hệ, những người có trái tim, lòng quả cảm và có kỹ năng, cùng tham gia với mình để đưa sự thật này ra trước thế giới.

Ông và nhóm của ông đã tập hợp được những người có tài năng & trái tim như: photographer của National Geographic, đạo diễn bộ film Louie Psihoyos, Simon Hutchins – 7 năm làm kỹ thuật viên hàng không của Không quân Canada, chứng nhận của lực lượng bảo vệ và cứu hộ ven biển, Mandy-Rae Cruickshank & Kirk Krack – 2 nhà vô địch thế giới môn lặn tự do, Scott Baker – một nhà khoa học về DNA, thậm chí 1 anh chàng chuyên thực hiện tổ chức các buổi biểu diễn nhạc Rock là Joseph Chisholm

Trong film còn có sự xuất hiện của nữ diễn viên Hayden Panettiere trong 1 cảnh quay ngắn. Cô cùng với những người bạn của mình đã định tiến hành xâm nhập bằng ván lướt sóng vào khu vực vịnh nhỏ để giải cứu các chú cá heo nhưng đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của những ngư dân ở nên đành chịu thua trong bất lực.

Nhóm của Ric biết chắc chắn rằng họ không thể nào xâm nhập trực tiếp vào khu vực đó để tiến hành quay film hay chụp hình được. Chính vì thế họ lập 1 kế hoạch tạo ra các máy quay kỹ thuật cao ngụy trang trong đá và máy thu âm dưới nước. Sau đó họ bị mật tiến hành mạo hiểm lắp đặt những thiết bị này vào ban đêm, thời điểm mà các ngư dân không nghĩ rằng họ sẽ xâm nhập khu vịnh.

Những hình ảnh thu được sau đó đã là 1 bằng chứng khủng khiếp.

Trước hết là những thanh âm hoảng loạn không ngớt của các chú cá heo kêu cứu suốt ngày đêm trong tuyệt vọng.

Sau đó là những hình ảnh ghi lại từ các máy quay vào ban ngày cho thấy: tất cả cá heo đều bị thảm sát 1 cách không thương tiếc bởi những ngư dân đứng trên thuyền với những cây giáo dài nhọn. Cả 1 vùng biển chìm trong máu đỏ. Xác cá chú cá heo bị đưa lên bờ và xẻ thịt ngay tại chỗ. Một cảnh tượng thật đau đớn, kinh khủng & hãi hùng !!!

Với đoạn videoclip đầy dã man & thương tâm đó, ngay ngày hôm sau, Ric đã đeo 1 cái màn hình TV ngay trước ngực, nối với 1 thiết bị phát sau lưng, bước vào hội nghị của Ủy ban Quốc tế vể Cá Voi đang nhóm họp ở Taiji. Ông lặng lẽ đi qua các hàng ghế của đại biểu, không nói 1 lời mà chỉ cho họ xem những gì đang diễn ra trên màn hình. Hàng trăm ống kính máy quay ngay lập tức chĩa vào ông. Và cũng ngay lập tức, ông bị đưa ra khỏi đó bởi bảo vệ. Nhưng sự việc đó cũng đã có chút tác động: một số nước đã suy nghĩ lại và rút khỏi cam kết ủng hộ Nhật Bản trong việc giết mổ cá heo.

Trong những ngày sau đó, Ric đã đi lên Tokyo, đứng 1 mình giữa những con đường đông đúc, tấp nập người đi bộ bậc nhất ở thủ đô này, đeo trước ngực mình cái màn hình TV, và chiếu đi chiếu lại đoạn video đầy kinh khủng đó, cho những người dân Nhật Bản thấy, có những tội ác đang diễn ra trên chính đất nước họ, mà họ không hề hay biết và có ý thức gì.

Những gì Ric và các thành viên trong nhóm của ông đã làm, với bộ film “The Cove” đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của công luận, những người yêu quý động vật nói chung và cá heo nói riêng.

Nhưng chính phủ Nhật Bản mà cụ thể là ngay tại Taiji, vẫn chẳng hề làm gì để ngừng việc thảm sát đó lại.

Và nếu tất cả chúng ta không làm gì hết, thì cứ mỗi năm, đến đầu tháng 09, việc sát sinh kinh khủng này sẽ lại được diễn ra.

Vì thế, hãy cùng với tôi, sau đây là những điều bạn có thể làm:

1. Hãy dành thời gian để xem bộ film này. Và bạn sẽ tận mắt chứng kiến sự thật.

Download bộ film tại đây (uploaded by Rwo): Link Download

Phụ đề tiếng Việt tại đây (translated and uploaded by Rwo): Download Vietsub

Nếu bạn không thể download và muốn chép film này, đừng ngại ngần liên hệ với tôi ngay tại đây.

2. Vào website http://www.takepart.com/thecove để tìm hiểu thêm về bộ film và về những gì mà Ric và nhóm của ông (OPS) đang làm.

3. Hãy dùng các công cụ trực tuyến mà bạn có: Facebook, blogs, mạng xã hội, Yahoo! Messenger để gửi đi thông điệp ‘hãy cứu lấy cá heo‘ & đường link bài viết của tôi nếu bạn cần dẫn chứng.

4. Nếu bạn là thành viên tham gia 1 nhóm hoạt động vì môi trường, hãy kêu gọi các thành viên trong nhóm của bạn, chúng ta có thể tổ chức những buổi xem film nho nhỏ.

“The Cove”, với tôi là bộ film tài liệu hay nhất năm qua.

Và nếu tại Oscars năm nay, bộ film được vinh danh trong hạng mục Best Documentary, thì đó sẽ là 1 ghi nhận đầy ý nghĩa và quý giá đối với thành quả của những người làm film, những người có trái tim và lòng quả cảm hoạt động vì môi trường. Và sẽ là động lực mạnh mẽ để tất cả chúng ta cần bắt tay vào hành động ngay, vì cuộc sống, vì hành tinh của chính mình.

Hãy thả cá heo về với đại dương !!!


Indie Glory.

P.S: Một lần nữa cảm ơn Rwo vì đã viết bài giới thiệu bộ film, upload film & phụ đề.

Bạn có thể viếng thăm những “tác phẩm khác của Rwo ở đây: Rworks.