Trải nghiệm Tokyo – cảm hứng từ Haruki Murakami: phần 1.

Hành trình đến Nhật của tôi chỉ có vỏn vẹn 5 ngày (không tính 1 ngày đi về). 2 ngày ở Osaka là dành cho Summer Sonic Festival & Radiohead. Còn 3 ngày ở Tokyo, tôi quyết định làm 1 hành trình nho nhỏ, khám phá những địa điểm mà nhà văn Haruki Murakami đã có nêu trong các tiểu thuyết của ông.

3 ngày là 1 khoảng thời gian không nhiều, nếu chia đều cho những hoạt động như ăn uống, mua sắm, etc… nên mỗi ngày tôi chỉ có thể chọn 1 địa điểm có liên quan đến Murakami để khám phá.

Ngày 1, văn phòng của Murakami.

Ngay ngày thứ 1, Tokyo đã chìm trong mưa bão suốt từ sáng sớm. Mưa và gió thổi không ngớt nhưng không thể phí thời gian ngồi nhà, tôi vẫn quyết tâm đi. Địa điểm đầu tiên mà tôi chọn đó là văn phòng của Murakami ở khu Aoyama. Aoyama là 1 khu nằm trong quận Minato ở phía tây bắc Tokyo, nơi đây nằm trên trục đường những cửa hàng thời trang cao cấp và nhà hàng sang trọng. Chúng tôi đi tàu điện ngầm từ ga Shibuya đến ga Meji-jingumae để đi bộ qua khu Cat Street, khu phố thời trang khá cool nằm trong khu Harajuku, trước khi hướng về phía Aoyama. Mưa càng về giờ trưa càng nặng hạt.

Đến khoảng 2h chiều, sau khi trú mưa thì chúng tôi bắt đầu vào khu Aoyama. Đường phố 2 bên khá là yên tĩnh, các khu dân cư nằm xen kẽ với những văn phòng và các studio thời trang. Tôi có được địa chỉ văn phòng của Murakami sau khi đã lục tung mọi ngõ ngách trên Google từ các blog và bài viết về ông. Và cho dù đã từng được cảnh báo trước rằng, ở Nhật mà có địa chỉ trong tay thì đi kiếm nhà cũng như…không có, nhưng tôi vẫn muốn thử xem sao, trải nghiệm mà.

Và sau gần 1 tiếng mò theo Google map, Google không thể định vị được chính xác địa chỉ mà tôi nhập vào, chỉ có thể tìm mang máng cái khu đó, thì tôi đã tin là…mình thất bại. Không thể tìm được vị trí cái nhà đó nằm ở đâu. Chúng tôi quyết định vào 1 tiệm Family Mart gần đó để hy vọng có thể hỏi ra gì đó. Hy vọng loé lên khi chúng tôi may mắn gặp được 1 cô bé bán hàng người Việt, nhưng cô bé sau khi lật bản đồ, cũng không biết địa chỉ này ở đâu. Và cô bé nhờ đến các bạn đồng nghiệp người Nhật, sau 1 lúc họ trao đổi thì thông tin chúng tôi có được cũng chỉ là địa chỉ này nằm ở đâu đó trong khu mà chúng tôi đã đi qua. Chúng tôi quyết định vòng lại đó để tra tìm thật kỹ. Thêm nửa tiếng dầm mưa sục sạo và kết quả vẫn…hệt như cũ. Thật sự bó tay. Tìm kiếm văn phòng của Murakami là thất bại đầu tiên. Và vì trời mưa không ngớt, nên tôi đã không chụp 1 tấm hình nào khu Aoyama này, coi như chuyến đi nửa ngày hoàn toàn là công cốc.

Thật ra thì tôi tìm đến văn phòng của Murakami không phải để tìm cách gặp ông ấy, mà tôi chỉ muốn có dịp đến thật gần, cảm nhận bầu không khí và mọi thứ xung quanh nơi ông vẫn ngồi viết hàng ngày, nhà văn và tác giả mà tôi ngưỡng mộ nhất.

Bonus 2 tấm hình tôi chụp khi ngồi trong 1 quán cafe trú mưa ở khu Aoyama.

Góc quán cafe nhìn ra màn mưa.

Góc từ trong tiệm cafe nhìn ra màn mưa.

 

Tấm này tôi chụp bằng máy phim khổ vuông qua lớp kính. Trời vẫn đang mưa. Và có 2 cặp bố mẹ dẫn 2 con rất dễ thương chia tay nhau đi 2 hướng.

Tấm này tôi chụp bằng máy phim khổ vuông qua lớp kính. Trời vẫn đang mưa. Và có 2 cặp bố mẹ dẫn 2 con rất dễ thương chia tay nhau đi 2 hướng.

Ngày 2, Jazz bar & Nakamuraya cafe

Ai quan tâm thì cũng đều biết Murakami rất mê âm nhạc. Ông có 1 bộ sưu tập đồ sộ đĩa vinyl ở tại văn phòng. Và trong đó nhạc Jazz là loại nhạc đã gắn bó với ông từ thời thanh niên. Murakami đã khởi nghiệp với 1 quán bar nhạc Jazz là Peter Cat tại Tokyo. Và sau này trong tác phẩm của ông cũng xuất hiện 1 quán bar nhạc Jazz, đó là quán DUG.

Quán DUG đã từng xuất hiện trong 1 đoạn ở cuốn “Rừng Nauy”. Đoạn mà nhân vật Toru và Midori, sau 1 giờ học tiếng Đức, đã bắt 1 chuyến xe bus đến khu Shinjuku và vào quán bar ở dưới tầng hầm, để được uống rượu vào buổi chiều mà không cảm thấy xấu hổ, ngại ngùng.

Đây có lẽ là địa điểm dễ tìm nhất trong hành trình khám phá Tokyo theo kiểu Murakami của tôi. Chỉ cần nhập vào Google map “DUG jazz bar” và đi theo hướng mũi tên chỉ, là bạn sẽ đến được quán bar vì có biển hiệu đàng hoàng. Quán mở từ năm 1967 và là 1 trong những quán tiêu biểu cho thời kỳ nhạc Jazz thịnh hành ở Nhật Bản thập niên 60-70s. Quán có những ngày chơi nhạc sống và những ngày không. Lúc chúng tôi đến thì quán chỉ mở DVD nhạc Jazz nhưng vẫn có phụ thu một ít (hình như là 500 Yên thì phải).

Biển hiệu của quán DUG

Biển hiệu của quán DUG

Menu của quán khá là đơn giản, không có gì quá đặc biệt hay signature nên tôi chỉ gọi một ly Old-Fashioned như bình thường. Ly rượu làm ổn, khá giống những ly Old-Fashioned kiểu Nhật tôi vẫn hay uống ở Sài Gòn.

Old-Fashioned cocktail kiểu Nhật.

Old-Fashioned cocktail kiểu Nhật.

Không gian của quán vừa phải, không quá nhỏ, không quá to. Không hiểu sao nhìn những cái bàn gỗ, ngọn nến đặt trên bàn và 1 kệ sách nhỏ, tôi lại nhớ đến Era cafe. Era… nơi tôi đã ngồi và lớn lên suốt thời thanh niên. Và quán này cho tôi cái cảm giác thân thuộc đó. À mà lẽ ra tôi nên gọi Daiquiri chứ không nên uống Old-Fashioned. Daiquiri là món cocktail hay xuất hiện trong cuốn “Phía Nam Biên Giới, Phía Tây Mặt Trời”. Hồi xưa trước khi đọc cuốn đó, có thời gian đến Era buổi tối muộn, tôi rất hay gọi Daiquiri. Rượu ở Era pha nhẹ, ngọt và mát, thêm lớp muối mặn mặn bám ở thành ly, uống rất thích. Nếu có lần sau quay lại, nhất định tôi sẽ uống Daiquiri.

Một góc không gian của quán gợi tôi nhớ về Era cafe.

Một góc không gian của quán gợi tôi nhớ về Era cafe.  

Logo của DUG jazz bar.

Phần này tôi viết hơi ngược một tí. Lẽ ra phải viết về quán Nakamuraya cafe trước, vì chúng tôi đi ăn trước rồi mới đi uống rượu. Nhưng tôi lại thích viết về quán rượu trước, thế nên bây giờ quay ngược lại đi ăn nhé.

Nakamuraya cafe, đây là 1 địa điểm mà tôi gọi là … tricky nhất trong chuyến hành trình khám phá này. Tricky là bởi vì, lẽ ra chúng tôi đã không tìm ra địa điểm này, nếu không có một chút… may mắn, kèm theo cơn đói cồn cào.

Tiệm Nakamuraya cafe này xuất hiện trong cuốn 1Q84, trong một đoạn hội thoại giữa nhân vật chính Tengo và nhân vật Komatsu. Komatsu đã sắp xếp cho Tengo gặp nhân vật cô bé Fuka-Eri vào lúc 6h tối để cho một cuộc nói chuyện dài.

Theo như chỉ dẫn trên các blog thì Nakamuraya cafe cũng nằm ở khu Shinjuku, và gần với nhà sách Kinokuniya. Nhà sách Kinokuniya ở Shinjuku cũng có xuất hiện trong cuốn 1Q84, và nơi đây thậm chí còn là nơi mà Murakami đã khởi nghiệp sự nghiệp viết lách của ông bằng việc đến mua 1 cây bút máy Sailor và 1 tập giấy viết để viết bản thảo truyện ngắn đầu tay.

Hình chụp trước của nhà sách Kinokuniya. Sưu tầm từ: https://randomwire.com/murakamis-tokyo-part-3/

Trở lại với Nakamuraya cafe, thì khi tôi đi theo chỉ dẫn của Google map, tôi đã tìm đến được khu vực đó, nhưng đi qua đi lại mà vẫn không thể xác định được cái quán cafe đó nằm ở chỗ nào. Xem lại các bài review trên blog thì có chụp hình 1 toà nhà mà theo đó thì quán nằm ở tầng 6. Chúng tôi tìm thấy toà nhà đó, nhưng vấn đề là, không có quán Nakamuraya cafe nào ở tầng 6 cả. Mà ở tầng 6 là 1 nhà hàng đồ nướng tên hoàn toàn khác. Dò hết danh sách các quán trong nhà hàng, cũng không thấy có tên Nakamuraya. Tôi bắt đầu hoang mang và nghĩ hay là quán đã đổi địa điểm đi chỗ khác? Google thì vẫn không cho ra được thông tin gì hơn. Quá mệt và đói rồi. Chúng tôi bảo nhau là thôi kiếm quán nào đó ăn đại vậy. Tôi nhìn lại 1 lần nữa vào danh sách các quán trong toà nhà thì thấy có 1 quán ăn càri ở tầng B2 tên là Manna. Ok thôi xuống đó đại vậy.

Trước cửa Manna cafe

Trước cửa Manna cafe

Và thật bất ngờ, khi xuống đến B2, trước mắt chúng tôi chính là quán… Nakamuraya cafe. Vâng, quán Nakamuraya cafe chính là Mana. Vội vàng bước vào, nhìn kỹ thực đơn, tôi thấy có món Nakamuraya curry đặc biệt. Vậy là chắc chắn quán này rồi. Vì Nakamuraya vốn nổi tiếng là nhà hàng đầu tiên mang cari Ấn đến Tokyo. Đồng thời trang phục của nhân viên và lối bày trí cũng giống hệt trong tấm hình trên các blog.

Bìa thực đơn của Manna. Chữ Nakamuraya cafe ở bên dưới.

Bìa thực đơn của Manna. Chữ Nakamuraya ở bên dưới.

Nana-3

Một góc không gian và cách bày trí của quán.

Tôi không ngần ngại gọi ngay 1 set cơm cari đặc biệt và nhân tiện hỏi thăm cô phục vụ là có phải đây là quán mới, còn quán trên lầu 6 là chuyển xuống đây không. Khổ nỗi các bạn cũng biết đấy, người Nhật rất hạn chế tiếng Anh nên họ chỉ có thể nghe và nói những thông tin đơn giản. Nhưng tôi phần nào cũng đã khẳng định được đây chính là quán mà mình tìm rồi.

Set cơm khá là đơn giản và đồ ăn hơi ít so với tôi. Nhưng đồ ăn thật sự rất ngon. Tôi gọi một ly bia tươi Kirin đi kèm theo set. Bia hơi đắng một chút. Thế là cuối cùng thì tôi cũng đã may mắn tìm được quán này. Nếu lúc đó mà chúng tôi bỏ đi chỗ khác, hay lên lầu 6 vào nhà hàng đồ nướng thì chắc chắn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy Nakamuraya cafe ở tầng B2 đâu.

Set cơm cari đặc biệt lựa chọn 2 món. Tôi chọn cari kiểu Nakamuraya và cari rau củ.

Set cơm cari đặc biệt lựa chọn 2 món. Tôi chọn cari kiểu Nakamuraya và cari rau củ.

Cơm đã ăn, rượu đã uống, tôi còn 1 địa điểm cuối cùng của chuyến hành trình, sẽ viết tiếp cho các bạn đọc vào blog sau nhé. Vì blog cũng dài rồi, đọc dài quá ngán lắm :)).

Nhảy, Nhảy, Nhảy.

Hôm nay đọc xong ‘Nhảy, Nhảy, Nhảy‘ của Murakami.

Cuốn này không nằm trong bộ ba ‘The Trilogy of The Rat‘ (gồm ‘Hear The Wind Sing’, ‘Pinballl, 1973’ & ‘The Wild Sheep Chase’) nhưng cũng tiếp theo câu chuyện về nhân vật không tên, khách sạn Cá Heo & Người Cừu từ ‘The Wild Sheep Chase‘.

Cuốn này nối tiếp câu chuyện từ ‘The Wild Sheep Chase‘, nhưng ở giữa 2 cuốn đó Murakami có viết ‘Hard-Boiled Wonderland and The End of The World’‘Norwegian Wood’. Vì vậy khi đọc ‘Dance, Dance, Dance’ tôi có một cảm giác rằng cuốn này Murakami viết với những ảnh hưởng từ 2 cuốn ngay trước đó.

Cụ thể là nhân vật Gontada thì giống Nagasawa và câu chuyện của nhân vật nam chính cũng khá giống Watanabe phần nào ở chỗ anh ta mang trong tâm trí bóng hình của cô gái điếm Kiki nên chỉ chú tâm đi tìm cô ấy, rồi chứng kiến những người xung quanh mình lần lượt chết, nhưng cuối cùng thì sau những biến cố đó lại tìm thấy tình yêu đích thực với một người con gái khác.

Còn giống ‘Hard-Boiled Wonderland and the End of the World‘ thì không nhiều, chỉ là ở chỗ một thế giới khác tồn tại song song với hiện thực, và ở nơi đó có nhân vật Người Cừu. Đó là thế giới ấy mỗi lần nhân vật chính lạc vào là lại cảm thấy như đó là nơi ‘tận cùng thế giới’.

Đọc ‘Dance, Dance, Dance‘ thì thấy mô-típ vẫn là nhân vật nam chính có cuộc sống bình thường, nhưng bị lôi vào những hiện tượng và biến cố khác thường. Nhân vật nam này cho dù chỉ cần làm việc chăm chỉ trong vài tháng nhưng có thể sống thoải mái, vô lo trong 1 thời gian nhất định. Chưa kể là được mời đi du lịch Hawaii, được đưa gái đẹp đến tận nơi cho … giải toả, rồi lúc nào cũng sẵn có beer, có rượu, được ăn ngon, nghe nhạc hay (chỉ có mặc đẹp là không thôi). Và tất cả những gì nhân vật nam đó phải làm là tận hưởng hết để tìm kiếm và giải quyết những vấn đề nội tâm của mình.

Đọc ‘Dance, Dance, Dance‘ tôi không thấy nhiều cảm xúc nhức nhối hay hoang mang như những tác phẩm khác của Murakami, mà thấy nó gần như là thuần giải trí. Cảm xúc chỉ lên cao trào ở một vài đoạn mà nhất là gần cuối. Nhưng khi xong thì thấy hơi hụt hẫng một chút. Có lẽ do kỳ vọng hơi nhiều. Nhưng cũng chẳng hề gì. Vì ở cuốn sách này, tôi tìm thấy cho mình một điểm đáng lưu ý khác.

Đó là tác giả đề cập đến cái gọi là “xã hội tư bản bậc cao“. Cụ thể và tiêu biểu nhất là ở đoạn này:

Hệ thống (tư duy) của cậu có thể không còn đúng trong thời điểm này nữa. Nó đã ra đi cùng với những bộ âm ly ống chân không tự làm bằng tay rồi. Thay vì cứ phí phạm thời gian công sức của mình, cậu nên đi mua một bộ bán dẫn mới. Rẻ hơn và tốt hơn rất nhiều. Và nếu như bị hỏng, ta có thể gọi người đến thay thế nhanh chóng. Khi nó cũ, cậu có thể đem bán. Hệ thống của cậu không quá kín kẽ đâu con trai ạ. Ngày xửa ngày xưa, nó còn có thể có giá trị. Nhưng không phải bây giờ. Ngày nay đồng tiền mới là thứ có tiếng nói nhất. Tiền có thể mua được mọi thứ. Cậu có thể mua những phần rời rạc rồi ghép chúng với nhau. Rất đơn giản. Cũng không tệ đâu. Cứ loanh quanh với cái hệ thống của cậu thì rồi cậu sẽ trở nên lạc hậu. Như vậy cậu sẽ không thể rẽ ngoặt gọn gàng và chỉ tổ làm vướng chân mọi người. 

Như vậy có thể hiểu là, hệ thống tư duy ngày trước của xã hội tư bản là: cá nhân con người giữ vị trí trung tâm của mọi thứ. Con người kiệt xuất sẽ tạo nên những giá trị, bao gồm cả tinh thần lẫn vật chất. Điển hình như là Steve Jobs. Theo quy luật tự nhiên thì sau một thời gian dài các giá trị vật chất và tinh thần sẽ được tạo ra đến một mức độ nào đó thì sẽ trở nên…dư thừa. Và lúc này hệ thống tư duy cũng bắt đầu thay đổi. Con người đánh mất dần vị trí trung tâm của mình mà để cho đồng tiền và vật chất thay thế.

Các hệ thống nền tảng của xã hội tư bản bậc cao ấy di chuyển và lan truyền đến khắp nơi, như một thứ không khí mà ta buộc phải hít vào mỗi ngày. Và gần như lập tức, giờ đây bạn sẽ thấy rằng mình đang ở Việt Nam, bạn đi làm ngày 8 tiếng, kiếm được 1 khoản lương vừa đủ tiêu, đang ôm mộng sẽ làm một thứ gì đó theo tư tưởng như … Steve Jobs.  Nhưng một ngày kia bạn được một công ty nào đó gọi đến và bảo rằng “chúng tôi biết anh đã làm được cái này, cái kia. Chúng tôi đánh giá cao năng lực của anh. Và bây giờ chúng tôi có từng này tiền, chúng tôi có mục tiêu thế này, anh không cần phải tư duy hay sáng tạo gì nhiều, anh chỉ cần theo các kế hoạch đã sẵn có rồi. Anh xem có muốn làm không?” Theo bạn thì nếu đó là một số tiền hậu hĩnh hơn mức lương bạn đang nhận hàng tháng, và đó là một công việc mà bạn cũng chẳng yêu thích đi chăng nữa (nhưng không trái với lương tâm hay vi phạm pháp luật gì cả), thì liệu bạn có từ chối để mong tiếp tục tìm kiếm cái mà mình thật sự đang mơ đến hay không? Chắc đến 80% là không nhỉ? Ai lại ngu đến thế cơ chứ!

Đó là ở Việt Nam. Còn bây giờ, hãy hướng về các nước phương Tây, nơi sản sinh ra cái gọi là “xã hội tư bản bậc cao” này xem thử. Ta sẽ thấy gì?

Phong trào chiếm lấy phố Wall đã nổ ra tại New York trong vòng 2 tuần qua và đang lan rộng ra khắp thế giới. Các cuộc biểu tình đã được lên kế hoạch tại 951 thành phố từ Bắc Mỹ, đến Châu Âu, Châu Á và cả Châu Phi (theo Tuổi Trẻ ngày 16.10.2011). Cho dù có những nơi chỉ có khoảng trăm người (Đài Loan), hay có nơi đến cả chục ngàn người (London) thì phong trào này đang thật sự là một làn sóng mạnh mẽ càn quét qua tất cả các nước tư bản. Sau những cuộc khủng hoảng về tài chính, nợ công của Châu Âu, thất nghiệp ở Bắc Mỹ, giờ đây những người có thu nhập trung bình, hay thấp, những người đang nai lưng ra làm lụng để rồi nộp thuế cho các chính trị gia, trả nợ hay lãi suất cho ngân hàng đã mạnh dạn đứng lên phản đối hệ thống kinh tế, chính trị ở chính nước mình. Họ chỉ trích sự tham lam của giới nhà giàu, sự bất lực của các chính trị gia và mong muốn đòi sự công bằng, đòi sự thay đổi mà ở đó quyền lợi của họ được đảm bảo hơn.

Chưa biết phong trào này liệu có thật sự thành công, nhưng ít nhiều nó cũng cho chúng ta thấy một cái nhìn khách quan về thế giới hôm nay. Và hãy thử nhìn ở ngay chính đất nước mình, bạn có thấy những người quá giàu, sống quá sung sướng với xe hơi, nhà biệt thự, căn hộ cao cấp, hàng hiệu, tiền tỷ, còn người thì quá nghèo không kham nổi ngày ba bữa ăn? Khoảng cách ngày càng lớn, tỷ lệ người giàu so với người nghèo quá chênh lệch. Và nếu chính phủ không có những chính sách để thay đổi thì chắc chắn không xa mâu thuẫn xã hội sẽ có ngày bùng nổ.

Nói xa xôi vậy chứ từ đây cho đến lúc đó, tất cả những gì ta có thể làm là : ‘nếu nhạc nổi lên, bạn nghe thấy giai điệu, thì hãy để cơ thể mình chuyển động theo nhịp điệu đó. Hãy nhảy, nhảy, nhảy, mà thôi.’