Tạm biệt nhé, Zuiko!

Đây là tấm hình nằm trong cuộn film cuối cùng tôi chụp bằng bộ máy Olympus yêu quý: body OM2-n MD & ống kính Zuiko 35 f2 MC.

 

mùa hè chiều thẳng đứng

mùa hè chiều thẳng đứng – film Kodak Gold 200

Trong số tất cả những loại máy film 35mm mà tôi từng sở hữu, thì bộ Olympus này là tôi thích sử dụng nhất. Phần tính tiện lợi dễ sử dụng, phần vì đa số sau khi chụp tráng scan ra đều có hình đẹp ưng ý, và tuyệt đối ổn định, chưa hỏng hóc bao giờ.

Body Olympus thì có lẽ không cần phải nói nhiều, khi mà rất nhiều trang đánh giá thiết bị đã xếp dòng OM của Olympus vào trong số những body máy film đáng sở hữu nhất. Bởi những đặc điểm: gọn nhẹ, thiết kế đẹp, thân thiện với người sử dụng và nhất là có hệ thống đo sáng TTL (through the lens – qua ống kính) rất ổn định, chính xác. Hệ thống đo sáng TTL trên dòng OM của Olympus bắt đầu từ OM-2 được Olympus quảng bá là hệ thống đo sáng trực tiếp nguồn sáng đi qua ống kính đầu tiên cho máy film 35mm trên thế giới.

Và quả thật từ lúc chụp với body OM2-n, chưa cuộn film nào của tôi bị đo sáng sai cả.

Ngoài việc sở hữu 1 body đầy đủ tính năng và đáng tin cậy, gọn nhẹ, đẹp đẽ như vậy, thì mục đích của đa số người chơi khi đến với Olympus là bởi vì cái danh tiếng: ‘Leica Châu Á’.

Thật ra cái danh tiếng này cũng chẳng biết xuất phát từ đâu, hay do các bác mê đắm Olympus ở Việt Nam đồn thổi mà thành. Tuy nhiên 1 thực tế đã được chứng minh đó là, các ống kính với tên gọi Zuiko của Olympus thật sự rất đáng chơi, đáng chụp.

Để có thể so sánh với Leica thì có lẽ là một chuyện tiếu lâm xa vời, nhưng trước hết đa số các ống kính Zuiko của Olympus được thiết kế nhỏ gọn, tinh xảo, một đặc điểm mà đa số các ống kính đến từ các hãng khác của Nhật đều không có.

Thêm nữa, chất lượng quang học và hình ảnh từ các ống kính thuộc dòng Zuiko này đều từ khá tốt cho đến rất tốt, tuỳ vào đời ống kính, series sản xuất và loại ống kính.

Tôi đã may mắn được trải nghiệm kha khá các ống Zuiko bao gồm: 55mm f1.2 G.Zuiko, 50 f1.4 MC, 28mm f2.8 MC, 28mm f2 MC, 135 f2.8 MC và 35 f2 MC.

Và ống kính cuối cùng mà tôi giữ lại cùng với body OM2-n là 35 f2 MC. Lý do là bởi, tiêu cự 35mm là tiêu cự vàng: không rộng quá, không hẹp quá, bao phủ từ các thể loại ảnh từ đường phố cho đến nhân vật, từ toàn cảnh cho đến đặc tả.

Bạn muốn mở khẩu xoá phông & bokeh lung linh: hãy chụp ở f2, dof rất đẹp, mịn màng, bokeh mượt mà, lung linh. Bạn muốn nét tất cả toàn cảnh và nổi khối? Hãy khép khẩu ở f5.6, chi tiết sẽ được thể hiện đầy đủ.

Và cái điều cuối cùng mà tôi muốn nói về Zuiko, sau một khoảng thời gian trải nghiệm chưa gọi là đủ lắm nhưng đã phải chia tay, đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận được, chất ảnh riêng biệt của dòng ống kính này.

ở công viên

ở công viên – film Fuji 100

Đó là sự mềm mại. Ống kính Zuiko nét không căng, cứng như Carl Zeiss. Màu và tương phản cũng không sắc và rực rỡ. Nhưng chính sự mềm mại, uyển chuyển nhẹ nhàng, như chính cái tên Zuiko, là cái khiến nhiều người chơi phải mềm lòng, lưu luyến. Một chất ảnh rất đặc trưng và đặc biệt, của riêng những người nghệ nhân làm ống kính đến từ xứ sở hoa anh đào.

Phải nói rằng dù sao tôi cũng đã có đủ may mắn, để chụp được rất nhiều thứ với bộ máy nói trên, và trong một lần chụp 1 cuộn film rồi mang sang 1 lab nổi tiếng nhất Bangkok để tráng scan, tôi mới phát hiện ra chất ảnh đặc trưng đó của ống kính Zuiko.

Và như thế, với một người chơi film nghiệp dư như tôi, cũng đủ mãn nguyện rồi.

Tạm biệt nhé, Zuiko.

Hình Ảnh Làm Đổi Thay Lịch Sử: Tại Sao Thế Giới Cần Đến Nhiếp Ảnh Gia Báo Chí.

Chưa bao giờ chụp một tấm ảnh lại dễ dàng như thế, nhưng cũng chưa bao giờ lại khó khăn đến thế để chụp một tấm ảnh thật sự nói lên được điều gì đó quan trọng với thế giới. 

Bài viết của David Rohde, ngày 18 tháng 12 năm 2013, đăng trên tờ The Atlantic, dịch bởi indie glory.

Tuần này, Ron Haviv đã nói với tôi lần đầu tiên một trong những bức ảnh của anh ấy đã thay đổi lịch sử.

Nhiếp ảnh gia chiến tranh nổi tiếng bị bao bọc bởi những tác phẩm để đời, mà tất cả trong số đó đang được triển lãm tại Anastasia Photo Gallery ở New York. Ở tuổi 23, Haviv đã chụp tấm ảnh một người đàn ông, ủng hộ nhà độc tài Panama Tướng Manuel Noriega, đánh đập một ông già người đã bầu chọn cho lãnh đạo phe đối lập, phó thủ tướng Panama.

Ron Haviv, Panama City, 1989

Điều gây chấn động ở tấm hình đó không chỉ bởi màu máu nhuộm đỏ thẫm chiếc áo ông già kia đang mặc, mà chính là hình ảnh những người lính Panama đứng đằng sau cách đó vài mét mà chẳng hề làm gì để bảo vệ cho ông gìa này. Tấm ảnh đó đã xuất hiện trên bìa của Time, Newsweek, và U.S News and World Report. Vài tháng sau, Tổng thống George Bush đã trưng ra tấm ảnh này trong bài diễn văn biện hộ cho hành động xâm lược Panama của Hoa Kỳ.

Và đột nhiên như thế,’ Haviv nói, ‘Tôi đã hiểu tại sao những gì mình đang làm đang tiến ra thế giới và tạo nên lẫn gây ra những phản hồi. Nó giúp củng cố thêm khát khao của tôi được biến công việc này thành lẽ sống.

Một phần tư thế kỷ sau đó, nhiếp ảnh giờ đây đã trở thành phương tiện truyền thông tối ưu của thời đại chúng ta. Những công nghệ tân tiến đầy chóng mặt cho phép 1 số lượng hình ảnh không tin được – nửa tỷ 1 ngày – được chụp và tải lên trực tuyến. Sự tối tân của công nghệ web và điện thoại di dộng thông minh càng làm cho việc kiếm sống của các nhiếp ảnh gia thực thụ trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Haviv, thành viên sáng lập của VII, một tổ chức đại diện về nhiếp ảnh cho các nhiếp ảnh gia (giống Magnum), nói rằng giờ đây số lượng các tạp chí và báo tờ gửi nhiếp ảnh gia của mình đi đưa tin các sự kiện trên thế giới chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Haviv lo sợ rằng những hình ảnh mang tính biểu tượng và có khả năng đánh động được nhận thức của con người ngày một biến mất.

Người tị nạn Rwandan Hutu ở Zaire năm 1994 chụp bởi Ron Haviv.

Những đôi mắt dõi theo những câu chuyện lớn đang dần biến mất đi,’ Haviv, người đã xông vào những xung đột lớn của thế giới suốt 30 năm qua nói.

Cũng giống như những ngành công nghiệp khác, công nghệ Web đã gây mất phương hướng và tạo nên con dao hai lưỡi đối với nhiếp ảnh. Nó đã khiến nhiếp ảnh giờ đây trở nên vô cùng đại chúng và dễ dàng tiếp cận hơn bao giờ hết. Nó cũng làm suy yếu đi một trong những nguồn tài chính truyền thống bấy lâu nay của các nhiếp ảnh gia: ảnh quảng cáo. Những tổ chức truyền thông đang từng bước tìm cách gia tăng doanh thu từ lĩnh vực trực tuyến nhưng họ vẫn không thể nào bù đắp được những mất mát chưa từng có tiền lệ ở lĩnh vực quảng cáo báo in.

Mùa xuân năm nay, tờ Chicago Sun-Times sa thải toàn bộ 28 nhân sự trong bộ phận nhiếp ảnh. (Tháng rồi, dưới sức ép của nghiệp đoàn họ đã thuê lại 4 trong số đó). Bởi vì tờ báo chuyển hẳn sang xuất bản web. Tờ U.S News and World Report sa thải đội ngũ phóng viên ảnh và tờ Newsweek thì không tiếp tục gia hạn hợp đồng với đội ngũ này. Những tờ báo, tạp chí và các hãng thông tấn khác, bao gồm cả Reuters, đã cắt giảm nhân sự ở bộ phận nhiếp ảnh và cắt giảm chi phí.

Tháng vừa rồi, theo báo cáo của Pew Research cho thấy số lượng nhiếp ảnh gia, nghệ sĩ và chuyên viên ghi hình là số bị cho nghỉ việc nhiều nhất trong tất cả các loại hình nhà báo, phóng viên, giảm 43% trong 10 năm qua.

Donald R.Winslow, một nhiếp ảnh gia kỳ cựu và là biên tập viên cho tạp chí News Photographer, ấn bản thương mại của Liên hiệp Nhiếp ảnh gia Báo chí toàn quốc đã nói những cắt giảm này là sai lầm chiến lược.

Chúng ta đang sống trong thời đại hữu hình và tân tiến nhất mà xã hội Mỹ từng trải qua. Những tờ báo mang sản phẩm của họ lên bản web và thất bại trong việc nhận ra rằng họ càng cần thêm các nhiếp ảnh gia, chứ không phải cắt giảm họ.’ Winslow nói.

Việc đăng tải những tấm ảnh chân dung ‘tự sướng’ lên mạng ngày nay đã vô cùng phổ biến đến mức nhan nhản và từ điển tiếng Anh Oxford đã tuyên bố ‘selfie’ là từ tiêu biểu cho năm 2013. Sự lan truyền và tranh cãi của nó còn lên đến đỉnh cao khi mà chính đương kim Tổng thống Barack Obama đã tạo dáng cùng với Thủ tướng Đan Mạch Helle Thorning-Schmidt và Thủ tướng Anh David Cameron để cùng chụp 1 tấm hình tự sướng trong lễ tang huyền thoại Nelson Mandela.

Cùng lúc đó, Nhà Trắng của ông Obama, với công cụ truyền thông xã hội và các nhiếp ảnh gia ‘người nhà’, đã tạo nên một hệ thống với tên gọi ‘Orwellian’ để truyền đi những hình ảnh ‘sạch đẹp’ nhất về ngài Tổng thống mà không cần đến các nhiếp ảnh gia báo chí.

Đây là những gì còn sót lại của một người đàn ông sau khi bị chặt đầu và đốt cháy trong cuộc nội chiến Kosovo 1999 – chụp bởi Ron Haviv.

Vâng, nhiếp ảnh gia báo chí đang ngày một đối mặt với những thực tế mới và thông qua hình ảnh của mình, minh chứng sự xác đáng của chính họ.

Cho dù có hàng tỷ hình ảnh được chụp từ điện thoại di động đang được tải lên Facebook và Flickrs mỗi ngày, vẫn có 1 số lượng lớn những hình ảnh mang tính biểu tượng cho thế giới ghi lại những sự kiện lớn quan trọng trên toàn cầu được chụp bởi những nhiếp ảnh gia báo chí chuyên nghiệp. Chín trong số 10 tấm hình được tạp chí Time chọn là ‘Top 10 Tấm Hình của 2013’ là một minh chứng, đều được chụp bởi những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

‘Vâng, có hàng triệu hình ảnh ở ngoài kia, ‘ Giám đốc hình ảnh của Time, Kira Pollack, nói với tôi trong một buổi phỏng vấn. ‘Nhưng những hình ảnh được chụp bởi các phóng viên ảnh báo chí này, là những tấm hình thuyết phục nhất.

Phán quyết thì tuỳ ở bạn. Còn Top 10 của Time thì ở đây: http://lightbox.time.com/2013/12/02/time-picks-the-top-10-photos-of-2013/#10

Những blogs đang đăng tải các tác phẩm của những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp tại Reuters, The Atlantic, The New York Times, Los Angeles Times, Boston Globe và Denver Post, sẽ tiếp tục thu hút ngày càng nhiều lượng truy cập trực tuyến.

James Estrin, một nhiếp ảnh gia của tờ New York Times, người đồng biên tập một blog về nhiếp ảnh – ‘Lens’ – với nhà bình luận David Gonzale, đã nói rằng sự bùng nổ của hình ảnh trên các phương tiện truyền thông xã hội đang tác động đến nhiếp ảnh theo 2 hướng. Đầu tiên, nó tạo ra một lượng khán thính giả đông đảo rộng khắp có thể tiếp cận những tác phẩm nhiếp ảnh đỉnh cao. Thứ 2, nó làm thay đổi bản chất tự nhiên của nhiếp ảnh. Ngày nay, đại đa số hình ảnh mà chúng ta đang chia sẻ trực tuyến là về chính bản thân, về gia đình và bạn bè – chứ không phải về những gì khác.

Estrin nói rằng ông chưa biết liệu những đổi thay này có đi theo hướng tích cực hay không. Nhưng ông cũng lo ngại rằng với dòng chảy cuồn cuộn của hình ảnh đó sẽ không thể khiến cho những tấm ảnh thật sự mang tính biểu tượng nổi bật lên. Lấy ví dụ như tấm hình gây chấn động mà nhiếp ảnh gia Nick Út chụp cô bé Phan Thị Kim Phúc, người bị bom napalm đốt trụi quần áo và bỏ chạy la hét. Ông lo âu rằng hình ảnh ngày nay có khó có thể mang đến 1 tác động mạnh mẽ như thế nữa.

Phạm Thị Kim Phúc bị bom napalm của Mỹ làm trụi quần áo – Nick Út chụp năm 1972 trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Giờ đây hình ảnh có quá nhiều và rất khó để cho một tấm hình thật sự nổi bật lên, phải không?’ Estrin hỏi. ‘Thậm chí khi tấm hình đó có thể phát tán và lan truyền, nó cũng chỉ trong 24 tiếng mà thôi.

Stephen Mayes, cựu giám đốc điều hành của VII và là một điều hành viên lâu đời của các tổ chức nhiếp ảnh khác, nói rằng nhiếp ảnh gia giờ đây buộc phải tự đổi mới chính bản thân mình.

Tuỳ thuộc vào việc các nhiếp ảnh chuyên nghiệp có chứng minh được gía trị của họ hay không. Thế giới chẳng hề nợ ta gì hết chỉ bởi vì chúng ta có thể tạo ra những hình ảnh tuyệt vời.

Haviv và những người khác đang nỗ lực để làm được điều đó. Họ đang xây đắp một lượng lớn người quan tâm trên các phương tiện truyền thông xã hội, quay những phim tài liệu, và chấp nhận sự hỗ trợ từ các tổ chức, lợi nhuận lẫn phi lợi nhuận, và Liên Hiệp Quốc hỗ trợ công việc của họ.

Các biên tập viên nhiếp ảnh nói rằng hình ảnh chụp bởi những người nghiệp dư có thể mạnh mẽ, nhưng những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp vẫn rất cần thiết vì họ là người tạo nên những hình ảnh nhiều tầng lớp sâu sắc ám ảnh người xem.

Sự tồn tại của nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp là yếu tố sống còn. Không có họ, nhận thức của thế giới sẽ ngày càng héo mòn đi. Họ chính là chứng nhân cho tất cả chúng ta.